Amenhotep III

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Amenhotep III
Nibmu(`w)areya[1]
Amenophis III
Tiên vương:
Thutmosis IV
Pharaông của Ai Cập
Vương triều thứ 18
Kế vị:
Akhenaten
Quartzite head of Amenhotep III.jpg
Niên đại 1391 TCN - 1353 TCN
Tên ngai
<
ra
nb
mAat
>

Nebmaatre
The Lord of Truth is Re[2]
Tên riêng
<
i mn
n
R4 HqA R19
>

Amenhotep Hekawaset
Amun hài lòng, cai trị Thebes[3]
Tên
thần Horus
G5
E1
D40
m N28 H6
Srxtail2.GIF
Kanakht Emkhaimaat
The strong bull, appearing in truth
Tên Nebty
(hai quý bà)
G16
s mn
n
Y1
O4
p
Z2
w
s W11
r
V28 a
N17
N17
Semenhepusegerehtawy
One establishing laws, pacifying the two lands
Horus Vàng
G8
O29
a
F23
V28 A24 S22
t G4
T14 Z3
Aakhepesh-husetiu
Great of valour, smiting the Asiatics
Hôn phối Tiye, Gilukhepa, Tadukhepa
Con cái Akhenaten, Thutmosis, Sitamun, Iset,
Henuttaneb, Nebetah, Smenkhkare (?), Beketaten
Cha Thutmosis IV
Mẹ Mutemwiya
Mất 1353 TCN
Chôn cất WV22
Công trình lớn Malkata, Đền của Amenhotep III
2 bức tượng Memnon


Amenhotep III, hay Amenophis III, (có nghĩa là "thần Amun hài lòng") là vị pharaoh thứ chín của Vương triều thứ 18 của Ai Cập cổ đại thời Tân vương quốc, một thời đại vàng son trong Lịch sử Ai Cập. Ông là con của vua Thutmosis IVhoàng hậu Mutemwiya. Ông cai trị khoảng 1391-1353 TCN. Hoàng đế Amenhotep III là một pharaoh vĩ đại đã đạt được một triều đại cai trị lâu dài và thịnh vượng. Ông cai trị trong khoảng 40 năm. Trong thời gian ông làm pharaoh, Ai Cập có được một thời kì tương đối thanh bình, một phần là do Amenhotep đã được hưởng đế chế vĩ đại từ Thutmosis III. Sự không có chiến tranh và sự ít đi chinh phục của Amenhotep được thay bằng sự xây dựng nhiều đền đài rất lớn. Chẳng hạn như ngôi đền Amun của ông ở Luxor hay 2 bức tượng Memmon hay cái tháp thứ ba ở đền ở Karnak. Ông có một người vợ quyền lực, Tiye. Xác ướp của ông đã được khai quật ở mộ ông, WV22 trong Thung lũng các vị vua và hiện đang ở Viện Bảo tàng Ai Cập (Cairo). Ông đã chọn Thutmosis làm người kế vị nhưng Thutmosis đã chết sớm. Ông băng hà năm 1353 TCN, khoảng 50 tuổi, và được kế vị ngai vàng bởi con trai thứ, Amenhotep IV, người mà sau này đã dị giáo và đổi tên thành Akhenaton.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ William L. Moran, The Amarna Letters, Baltimore: Johns Hopkins University Press, (1992), EA 3, p.7
  2. ^ Clayton, Peter. Chronicle of the Pharaohs, Thames & Hudson Ltd., 1994. p.112
  3. ^ [1] Amenhotep III

Amenhotep III-Fruit of the Nile