American Idol

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
American Idol
American Idol logo.png
Logo của chương trình American Idol
Định dạng truyền hình tương tác, truyền hình thực tế, game show
Sáng lập Simon Fuller
Đạo diễn John Pritchett (live show)
Bruce Gowers (live show, 2002-2008)
Nigel Lythgoe (vòng thử giọng)
Ken Warwick (vòng thử giọng)
Dẫn chương trình Ryan Seacrest
Brian Dunkleman (phần 1)
Giám khảo Simon Cowell
Paula Abdul
Randy Jackson
Kara DioGuardi
Ellen DeGeneres
Jennifer Lopez
Steven Tyler
Quốc gia Hoa Kỳ
Sản xuất
Giám đốc sản xuất Nigel Lythgoe
Ken Warwick
Cecile Frot-Coutaz
Trình chiếu
Kênh trình chiếu FOX
Định dạng hình ảnh 480i (NTSC),
720p (HDTV)
Phát sóng 11 tháng 6 năm 2002 – nay
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

American Idol là một cuộc thi âm nhạc và chương trình truyền hình thực tế của nước Mỹ. Cuộc thi bắt đầu được tổ chức từ ngày 11 tháng 6 năm 2002 và là một trong những chương trình truyền hình thu hút đông khán giả nhất nước Mỹ. American Idol được mua bản quyền từ chương trình Pop Idol của Anh do nhà sản xuất Simon Fuller sáng lập.

Cuộc thi American Idol được sáng lập với mục đích tìm ra những ca sĩ triển vọng nhất nước Mỹ qua một loạt các vòng thử giọng được tổ chức trên khắp đất nước. Sau đó, những thí sinh lọt vào vòng trong sẽ được quyết định bởi bình chọn của khán giả qua điện thoại. Một đặc điểm của chương trình là sau phần trình diễn của thí sinh, các vị giám khảo sẽ đưa ra các nhận xét của mình để giúp khán giả định hướng thí sinh mà mình bình chọn. Ban đầu, ba vị giám khảo của chương trình American Idol là nhà sản xuất âm nhạc Randy Jackson, nữ ca sĩ nhạc pop và vũ công Paula Abdul và giám đốc hãng ghi âm Simon Cowell. Đến mùa thứ 8, Kara DioGuardi, một nhà sản xuất âm nhạc đã được mời làm giám khảo thứ tư của chương trình. Hiện nay, chương trình có ba giám khảo là Harry Connick,Jr, Jennifer Lopez và Keith Urban (Từ mùa XIII).[1]. Người dẫn chương trình của cuộc thi là Ryan Seacrest.

Chương trình American Idol được trình chiếu trên nhiều kênh truyền hình khác nhau như kênh FOX của Mỹ, TVNZ của New Zealand, CTVCanada, FOX8Australia, ITV2Anh. Khán giả Việt Nam và một số nước châu Á cũng có thể xem chương trình American Idol được phát trên kênh Star World.

Chương trình[sửa | sửa mã nguồn]

Điều kiện tham dự[sửa | sửa mã nguồn]

Những thí sinh tham dự cuộc thi American Idol phải là những người có khả năng ca hát và hiện không có bất cứ một hợp đồng ghi âm hay chịu sự quản lý của một tổ chức âm nhạc nào. Họ phải là công dân Hoa Kỳ hoặc là người nước ngoài làm việc tại Mỹ trong thời gian dài. Trong 3 năm đầu tiên, các thí sinh tham dự American Idol phải ở trong độ tuổi từ 16 đến 24. Nhưng từ năm thứ tư, cuộc thi nâng giới hạn tuổi lên 28 để thu hút thêm những thí sinh nhiều kinh nghiệm hơn tham dự.

Một số đối tượng đặc biệt không đủ tư cách tham dự American Idol là những thí sinh đã từng lọt vào top 40 (hoặc top 50 của phần 7) từ năm trước. Bên cạnh đó, những người làm việc cho các đơn vị sản xuất của chương trình như FOX, Fremantle hay 19 Entertainment cũng không được tham dự cuộc thi.

Tất cả các thí sinh đến tham gia vòng thử giọng đều phải mang các giấy tờ liên quan đến bản thân như giấy khai sinh, bằng lái hoặc hộ chiếu. Các thí sinh dưới 18 tuổi khi đăng ký phải có sự chấp thuận và giám sát của phụ huynh hoặc người giám hộ. Những thí sinh tham dự được yêu cầu in bản mẫu khai trên trang chủ của cuộc thi và điền đầy đủ thông tin được yêu cầu. Những thí sinh bị phát hiện ghi thông tin sai lệch sẽ lập tức bị loại khỏi cuộc thi.

Vòng thử giọng[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc thi American Idol bắt đầu với hàng chục ngàn thí sinh tham dự và họ sẽ được phỏng vấn và loại bớt trước khi tham gia thử giọng với hai nhà sản xuất của chương trình là Ken Warwick và Nigel Lithgoe. Sau đó, họ sẽ được tham dự vòng thử giọng chính thức với ba vị giám khảo chính của chương trình là Simon Cowell, Kara DioGuardi, Randy Jackson, Ellen Degenerous. Vòng thử giọng thường diễn ra tại một trung tâm hội nghị lớn và các thí sinh sẽ hát vài đoạn nhạc hoặc bài hát trực tiếp trước các vị giám khảo. Theo quy định phải có ít nhất 3 trên 4 vị giám khảo chấp nhận thì thí sinh đó sẽ được lọt vào vòng trong và khởi hành tới Hollywood, nơi diễn ra các vòng thi sau.

Cũng giống như Pop Idol của Anh, những tập phim của vòng thử giọng thường trộn lẫn màn thi của cả các thí sinh tốt và kém với nhau để chiếu lên truyền hình, trong đó nhiều phần thi khá hài hước và vui nhộn.

Vòng loại ở Hollywood[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Hollywood, các thí sinh được lựa chọn qua các vòng thử giọng trên khắp nước Mỹ sẽ thi tiếp trong nhiều ngày, đồng thời cũng có rất nhiều các thí sinh sẽ bị ban giám khảo loại đi. Trong vòng thứ nhất của cuộc thi tại Hollywood, các thí sinh sẽ lựa chọn bài hát từ một danh sách có trước để trình diễn. Ở vòng loại thứ hai, các thí sinh được chia thành nhiều nhóm nhỏ và phải trình diễn chung với nhau. Và ở vòng cuối cùng, các thí sinh sẽ hát không có nhạc đệm.

Vòng bán kết[sửa | sửa mã nguồn]

Tại vòng bán kết, các thí sinh được lựa chọn sẽ được chia làm các bảng. Mỗi bảng gồm nhiều ca sĩ và tất cả những thí sinh trong cùng một bảng sẽ trình diễn trong cùng một đêm. Từ vòng này, ban giám khảo chỉ còn vai trò nhận xét thí sinh còn quyết định hoàn toàn thuộc về bình chọn của khán giả qua điện thoại. Hai (hoặc ba) thí sinh cao điểm nhất của mỗi bảng sẽ được tuyển vào vòng chung kết. Ở phần 1 của cuộc thi, có ba bảng và top 3 thí sinh nhận nhiều bình chọn nhất sẽ vào thẳng chung kết. Nhưng sang phần 2 và phần 3, cuộc thi có 4 bảng đấu với 8 thí sinh cho mỗi bảng và 2 thí sinh được bình chọn nhiều nhất được vào chung kết.

Những thí sinh thất bại sau các bảng đấu sẽ được ban giám khảo lựa chọn một lần nữa để tranh tấm vé vớt ("Wildcard") vào chung kết. Ở phần 1, chỉ có một vé vớt duy nhất và được lựa chọn bởi ban giám khảo. Sang phần 2 và 3, mỗi vị giám khảo được chọn một thí sinh cho tấm vé vớt của mình còn khán giả cũng được quyền bình chọn thêm một tấm vé vớt nữa.

Từ phần 4 của American Idol, cuộc thi giảm xuống còn 24 thí sinh lọt vào chung kết và được chia theo giới tính. Các nam ca sĩ và nữ ca sĩ sẽ hát trong hai đêm liền nhau rồi sau đó 2 người nhận được lượt bình chọn thấp nhất mỗi bên sẽ bị loại cho đến khi có top 12.

Vòng chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng chung kết của cuộc thi American Idol diễn ra trong 11 tuần liên tiếp. Trong mỗi tuần, các thí sinh sẽ phải lựa chọn các bài hát để trình diễn theo "chủ đề". Các chủ đề ở đây có thể là những dòng nhạc khác nhau như như nhạc đồng quê, nhạc latinh; các bài hát được sáng tác bởi một nhạc sĩ nổi tiếng; các tác phẩm của các ca sĩ và ban nhạc huyền thoại như Elvis Presley, Elton John, Mariah Carey, The Beatles... Trong vòng chung kết, các thí sinh có cơ hội được làm việc trực tiếp với các chuyên gia âm nhạc hoặc các ca sĩ để có thể chuẩn bị tốt nhất cho phần trình diễn của mình.

Trong các đêm chung kết, mỗi thí sinh sẽ hát một bài. Đến khi cuộc thi chỉ còn lại top 5 và top 4 người thì mỗi thí sinh hát 2 bài. Khi còn lại top 3 và trong đêm chung kết thì mỗi thí sinh sẽ hát ba bài, trong đó có bài thí sinh tự chọn, có bài là yêu cầu của một trong ba vị giám khảo.

Trong mỗi đêm công bố kết quả, thí sinh có số lượt bình chọn cao nhất sẽ không được tiết lộ. Chỉ có top 3 thí sinh có số lượng bình chọn xếp từ dưới lên được gọi tên và trong đó thí sinh có số lượt bình chọn thấp nhất sẽ bị loại.

Từ trước đến năm 2008, đêm chung kết của cuộc thi thường diễn ra ở Nhà hát Kodak, nhưng riêng năm 2008 thì cuộc thi chuyển đến Nhà hát Nokia. Thí sinh đăng quang American Idol sẽ được công bố trong phần cuối của đêm chung kết. Người đoạt danh hiệu American Idol sẽ nhận phần thưởng là hợp đồng ghi âm trị giá 1 triệu USD và được chịu trách nhiệm bởi hãng 19 Management. Nói chung, American Idol là khởi điểm cho nhiều ca sĩ trẻ để họ thu được những thành công trong sự nghiệp sau này.

Người chiến thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Mùa American Idol Á quân
2002 American Idol (Mùa 1) Kelly Clarkson Justin Guarini
2003 American Idol (Mùa 2) Ruben Studdard Clay Aiken
2004 American Idol (Mùa 3) Fantasia Barrino Diana DeGarmo
2005 American Idol (Mùa 4) Carrie Underwood Bo Bice
2006 American Idol (Mùa 5) Taylor Hicks Katharine McPhee
2007 American Idol (Mùa 6) Jordin Sparks Blake Lewis
2008 American Idol (Mùa 7) David Cook David Archuleta
2009 American Idol (Mùa 8) Kris Allen Adam Lambert
2010 American Idol (Mùa 9) Lee Dewyze Crystal Bowersox
2011 American Idol (Mùa 10) Scotty McCreery Lauren Alaina
2012 American Idol (Mùa 11) Phillip Phillips Jessica Sanchez
2013 American Idol (Mùa 12) Candice Glover Kree Harrison
2014 American Idol (Mùa 13) Caleb Johnson Jena Irene
2015 American Idol (Mùa 14) Nick Fradiani Clark Beckham

Thông tin thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jordin Sparks là thí sinh trẻ nhất từng đăng quang American Idol khi mới 17 tuổi, 5 tháng, 1 ngày. Thí sinh lớn tuổi nhất đăng quang là Taylor HicksNick Fradiani (29 tuổi)

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình American Idol là một trong những chương trình Idol hấp dẫn nhất trên thế giới. Cuộc thi này được truyền hình tới hơn 100 quốc gia bên ngoài lãnh thổ nước Mỹ qua nhiều kênh truyền hình khác nhau. Ở một số nước, American Idol cũng được phát sóng trực tiếp là Canada, Malaysia, Ấn Độ, Pakistan, Indonesia, UAE). Khán giả Việt Nam cũng có thể xem trực tiếp chương trình trên kênh Star World của mạng truyền hình cáp. Ở nhiều nước khác, chương trình này được chiếu muộn hơn ở Mỹ vài giờ hoặc vài ngày. Chương trình American Idol được chiếu ở Australia sau 5 giờ còn ở Anh là sau 2 ngày kể từ khi truyền hình trực tiếp ở Mỹ.

Ngừng sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11/5/2015, kênh truyền hình FOX của đã đưa ra một thông báo làm nhiều khán giả yêu mến American Idol phải thất vọng. Đó là việc sau mùa giải thứ XV, chương trình sẽ bị ngừng sản xuất.

American Idol, chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng này, chọn thí sinh chiến thắng dựa theo bình chọn của khán giả, nay lại bị chính khán giả “bình chọn” phải kết thúc. Tờ Time gọi đây là “nạn nhân thành công của chính nó”.

Thông tin này không khiến ai ngạc nhiên, những ngày hoàng kim của Idol đã trôi qua từ lâu. FOX, hiện là hãng truyền hình lớn thứ 4 nước Mỹ, cũng cần phát triển những chương trình ăn khách mới. Hút khách vì đơn giản, chết cũng vì đơn giản.

Mặc dù vậy, vẫn có gì đó tiếc nuối quanh sự kết thúc của American Idol. Chương trình này có một format đơn giản bậc nhất trong những chương trình truyền hình thực tế hiện nay: khán giả bình chọn cho ca sĩ họ yêu thích nhất. Mặc dù có một ban giám khảo luôn quy tụ những nghệ sĩ nổi tiếng, nhưng họ chỉ đóng vai trò cố vấn, không có quyền quyết định người chiến thắng

Mùa đầu tiên vào năm 2002 của Idol lập tức ăn khách, những kênh truyền hình khác phải tránh lịch chiếu của Idol vì không cạnh tranh được. Nhưng qua các mùa chiếu, dường như Idol đã mắc sai lầm khi liên tiếp gia tăng những yếu tố khó chịu và tồi tệ của chương trình.

Ban đầu, một phần lớn sức hút của Idol nằm ở cuộc đối đầu giữa các giám khảo Simon CowellPaula Abdul. Sau 5 năm, khi cả Cowel và Abdul đều đã rời khỏi chương trình, Idol lặp lại công thức này bằng cách mời hai giám khảo chuyên gây gổ với nhau Mariah CareyNicki Minaj, nhưng lại tạo ra một mùa thi thảm họa vào năm 2013.

Vì sao? Với sự xuất hiện của những ngôi sao này và hướng tâm điểm của chương trình vào các cuộc đấu khẩu, gây cười cho người xem khiến chương trình bị chỉ trích là quan tâm đánh bóng tên tuổi cho các ngôi sao đã thành danh hơn là tìm ra tài năng mới.

Chuyển sang mùa mới, dàn giám khảo chất lượng Keith Urban, Jennifer Lopez và Harry Connick Jr khiến khán giả tin rằng Idol sẽ tập trung hơn vào chuyên môn âm nhạc. Nhưng, đó lại là thời kỳ thoái trào của Idol, khi nó không cạnh tranh được với những format mới, phức tạp hơn nhưng hấp dẫn hơn của The VoiceX-Factor. Quyền sinh sát của công chúng American Idol thành công nhờ thời thế. Chương trình đã chớp cơ hội khi nó xuất hiện ở thời truyền hình thực tế chưa nở rộ như hiện nay và đạt được độ nổi tiếng vượt bậc.

Năm 2002 là đoạn cuối trong những năm bùng nổ của ngành công nghiệp ghi âm. Nhu cầu của thị trường, nghệ sĩ và công chúng đều đòi hỏi có một cầu nối giữa các hãng thu âm lớn và các nghệ sĩ mới. American Idol chính là chiếc cầu nối đó, không thể phủ nhận là rất hiệu quả khi đã đưa ra thị trường những ngôi sao tài năng như Kelly Clarkson, Carrie Underwood, Jennifer Hudson, Jordin Sparks, Phillip Phillips

Thành công của những ca sĩ kể trên tạo ra ấn tượng rằng việc đưa một tài năng trở thành ngôi sao ngày nay đã dễ dàng và dân chủ hơn. Trước đó, thật khó để tưởng tượng một ca sĩ có thể dễ dàng ra mắt qua trang Vine mà không có một cộng đồng công chúng bầu chọn cho họ. Và các công chúng này hiểu rằng “phiếu bầu” của họ ảnh hưởng trực tiếp đến top 40 trên đài phát thanh. Mặc dù tạo ra cuộc cách mạng như vậy, tác động của American Idol đến ngành công nghiệp dần suy yếu ở các mùa sau. Các thí sinh chiến thắng cũng không trở thành ngôi sao lớn như Kelly Clarkson. Carrie UnderwoodJennifer Hudson là hai giọng hát đỉnh của thể loại countryR&B, nhưng không phải là nghệ sĩ biểu diễn độc đáo. Một số quán quân đã trở thành ngôi sao, nhưng họ cũng không vượt lên để trở thành hàng đầu.

Gương mặt lạ nhất và biến hóa nhất mà Idol từng phát hiện là Adam Lambert (á quân chương trình vào năm 2009) cũng khá thành công trên thị trường nhưng chưa đủ rung chuyển âm nhạc. Dấu ấn lớn nhất của American Idol với âm nhạc Mỹ và thế giới là chương trình này, nhờ khả năng thu hút công chúng trên mạng xã hội và ra đời khi ngành công nghiệp thu âm sụp đổ, đã trao quyền chọn ngôi sao vào tay công chúng. Vì quyền lợi này, công chúng bị hút vào chương trình, đó là sức mạnh của dân chủ hóa nền giải trí.

Đó là con dao hai lưỡi, bởi khi Idol không còn sức hút, có thể coi như nó đã bị chính công chúng bầu chọn để khai tử.

Thông tin này được đưa ra chỉ vài ngày trước chung kết mùa thứ XIV. Điều đó có thể sẽ làm nóng chương trình trong một thời gian ngắn.

Mùa thứ XV sẽ bắt đầu lên sóng vào tháng 1/2016. Ba giám khảo của mùa này là Harry Connick, Jr, Jennifer LopezKeith Urban, cùng với dẫn chương trình Ryan Seacrest. Ngoài mục đích tìm ra quán quân cuối cùng của chương trình truyền hình ăn khách một thời này, mùa XV còn là mùa để tri ân các thí sinh trong 14 mùa trước và kỉ niệm, ăn mừng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]