American Idol (mùa 4)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
American Idol (Mùa 4)
American Idol logo.png
Định dạng Truyền hình tương tác
thực tế
Sáng lập Simon Fuller
Đạo diễn Bruce Gowers
Dẫn chương trình Ryan Seacrest
Giám khảo Paula Abdul
Simon Cowell
Randy Jackson
Quốc gia Mỹ
Ngôn ngữ tiếng Anh
Số tập 42 (Danh sách chi tiết)
Sản xuất
Giám đốc sản xuất Nigel Lythgoe
Ken Warwick
Simon Fuller
Địa điểm nhà hát Orpheum, LA (Hollywood)
CBS Television City
(Chung kết)
nhà hát Kodak
(Lễ đăng quang)
Thời lượng thay đổi
Trình chiếu
Kênh trình chiếu FOX, CTV
Phát sóng 18/0125/05/2005
Thông tin khác
Phần trước/
Phim trước
American Idol (Mùa 3)
Phần sau/
Phim sau
American Idol (Mùa 5)
Liên kết ngoài
Trang mạng chính thức

Mùa thi thứ tư của loạt chương trình American Idol chính thức ra mắt ngày 18 tháng 01 và kết thúc ngày 25 tháng 05, 2005. Thành phần hội đồng giám khảo vẫn giống các mùa thi trước gồm: Randy Jackson, Paula AbdulSimon Cowell.

Người chiến thắng mùa thi này là Carrie Underwood, cô ca sĩ nhạc country này hiện đang giữ 3 giải thưởng Grammy.

Vòng thử giọng[sửa | sửa mã nguồn]

Người chiến thắng
CroppedCarrieUnderwoodAtTheWorldArena.jpg
Tên khai sinh Carrie Marie Underwood
Năm chiến thắng 25 tháng 05, 2005 - 24 tháng 05, 2006
Dòng nhạc Pop, Country
Kế nhiệm Taylor Hicks
Tiền nhiệm Fantasia Barrino

Vòng thi thử giọng được tổ chức ở

..theo kế hoạch ban đầu, sẽ có một buổi thi thử giọng khác được tổ chức tại Anchorage, Alaska, nhưng sau đó được dời sang Orlando, Florida.Vòng thử giọng bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 10, 2004. So với những mùa thi trước, mùa thi năm nay mời những người nổi tiếng tham gia làm giám khảo ngay từ vòng thử giọng. Danh sách khách mời gồm:

Đây cũng là mùa thi đầu tiên mở rộng tiêu chuẩn tuyển chọn thí sinh, khung độ tuổi quy định được nới lỏng bao gồm tất cả các thí sinh độ tuổi từ 16 đến 28.

Vòng bán kết[sửa | sửa mã nguồn]

Do ở mùa thi thứ ba, số lượng thí sinh nữ chiếm 8/12 số thí sinh vòng chung kết, nên điều lệ cuộc thi đã được sửa đổi để tránh trường hợp trên tái diễn.

Thay vì cạnh tranh trực tiếp để giành số phiếu khán giả bầu chọn cao hơn bước tiếp vào vòng chung kết, 24 thí sinh (nam, nữ đồng đều) sẽ được phân thành hai nhóm riêng biệt thi đấu với nhau và loại dần từng 4 người (2 nam, 2 nữ) qua các tuần cho đến khi còn lại chỉ 12 thí sinh.

Nội dung thi[sửa | sửa mã nguồn]

Tốp 24 (Nam)[sửa | sửa mã nguồn]

Bị loại: Jared Yates và Judd Harris

Tốp 24 (Nữ)[sửa | sửa mã nguồn]

Bị loại: Melinda Lira và Sarah Mather

Tốp 20 (Nam)[sửa | sửa mã nguồn]

Bị loại: Joseph Murena và David Brown

Tốp 20 (Nữ)[sửa | sửa mã nguồn]

Bị loại: Celena Rae và Aloha Mischeaux

Tốp 16 (Nam)[sửa | sửa mã nguồn]

Bị loại: Travis Tucker và Nikko Smith
(Nikko Smith giành được cơ hội đi tiếp sau khi Mario Vazquez bỏ cuộc)

Tốp 16 (Nữ)[sửa | sửa mã nguồn]

Bị loại: Janay Castine và Amanda Avila

Tốp 12 (Những bài hát thấp niên 1960)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm 3 không an toàn: Lindsey Cardinale, Mikalah Gordon và Jessica Sierra

Nhóm 2 không an toàn: Lindsey Cardinale và Mikalah Gordon

Bị loại: Lindsey Cardinale

Tốp 11 (Những bài hát dứng đầu bảng xếp hạng Billboard)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm 3 không an toàn: Nadia Turner, Mikalah Gordon và Anthony Fedorov

Nhóm 2 không an toàn: Nadia Turner và Mikalah Gordon

Bị loại: Mikalah Gordon

Tốp 10 (Những ca khúc thập niên 1990)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm 3 không an toàn: Nadia Turner, Jessica Sierra và Anwar Robinson

Nhóm 2 không an toàn: Jessica Sierra và Anwar Robinson

Bị loại: Jessica Sierra

Tốp 9 (Những ca khúc kinh điển của Broadway)[1][sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm 3 không an toàn: Nikko Smith, Vonzell Solomon và Scott Savol

Nhóm 2 không an toàn: Nikko Smith và Scott Savol

Bị loại: Nikko Smith

Tốp 8 (Những bài hát cùng Năm sinh)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm 3 không an toàn: Scott Savol, Bo Bice và Nadia Turner

Nhóm 2 không an toàn: Bo Bice và Nadia Turner

Bị loại: Nadia Turner

Tốp 7 (Những ca khúc nhạc Dance thập niên 1970)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đêm công bố kết quả - "You Can Shine"

Nhóm 3 không an toàn: Anthony Fedorov, Anwar Robinson và Scott Savol

Bị loại: Anwar Robinson

Tốp 6 (Thế kỷ 21)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm 3 không an toàn: Vonzell Solomon, Anthony Fedorov và Constantine Maroulis

Nhóm 2 không an toàn: Anthony Fedorov và Constantine Maroulis

Bị loại: Constantine Maroulis

Tốp 5 (Những bài hát của nhạc sĩ Lieber & Stoller/Những bài hát trong bảng xếp hạng Billboard tuần hiện tại)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm 2 không an toàn: Anthony Fedorov và Scott Savol

Bị loại: Scott Savol

Tốp 4 (Country/Gamble & Huff)[sửa | sửa mã nguồn]

Nhóm 2 không an toàn: Anthony Federov và Vonzell Solomon

Bị loại: Anthony Federov

Tốp 3 (Clive's Choice, Idols' Choice, Judges' Choice)[sửa | sửa mã nguồn]

Bị loại: Vonzell Solomon

Tốp 2[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến thắng: Carrie Underwood

Về nhì: Bo Bice

Lễ đăng quang[sửa | sửa mã nguồn]

Số phát sóng cuối mùa 4 chủ yếu xoay quanh hai thí sinh được yêu thích nhất là Bo BiceCarrie Underwood lên sóng ngày 24&25 tháng 05, thu hút được 37 triệu lượt bình chọn của khán giả. Đêm đăng quang cũng có sự hiện diện của những thí sinh đã bị loại và các nhân vật nổi tiếng trong giới truyền thông như: Kenny G, Rascal Flatts, David Hasselhoff, Kenny Wayne Shepherd, George Benson, Billy Preston, BabyfaceLynyrd Skynyrd. Người chiến thắng mùa thi năm nay là Carrie Underwood, hiện là người chiến thắng của "American Idol" đầu tiên nhận được ba đề cử âm nhạc danh giá trong năm đăng quang 2006-2007 (gồm American Music, Billboard, và giải Grammy).

Thứ tự bị loại[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng màu
Vòng: Bán kết Chung kết
Tuần thi: 23/02 02/03 09/03 16/03 24/03 30/03 06/04 13/04 20/04 24/04 04/05 11/05 18/05 25/05
STT Thí sinht Kết quả
1 Carrie Underwood Chiến thắng
2 Bo Bice At 2 Về nhì
3 Vonzell Solomon At 1 At 1 At 1 Loại
4 Anthony Fedorov At 1 At 1 At 2 At 1 Loại
5 Scott Savol At 2 At 1 At 1 Loại
6 Constantine Maroulis Loại
7 Anwar Robinson At 2 Loại
8 Nadia Turner At 2 At 1 Loại
9 Nikko Smith Loại1 Loại
10 Jessica Sierra At 1 Loại
11 Mikalah Gordon At 2 Loại
12 Lindsey Cardinale Loại
13 Mario Vazquez Loại
14
-
16
Amanda Avila Loại
Janay Castine
Travis Tucker
17
-
20
Joseph Murena Loại
David Brown
Aloha Mischeaux
Celena Rae
21
-
24
Judd Harris Loại
Sarah Mather
Jared Yates
Melinda Lira
  • Vòng bán kết 3, Nikko đã chính thức bị loại nhưng nhận được ưu tiên thi tiếp vì thí sinh Mario Vazquez quyết định bỏ cuộc với lý do riêng.
  • Do sự cố của hệ thống bình chọn, đêm thứ tư 23 tháng 03 không có thí sinh nào chia tay sân chơi American Idol, toàn bộ kết quả bỏ phiếu bị hủy bỏ. Kết quả thay bằng cuộc tái bỏ phiếu ngày 24, Mikalah Gordon bị loại.

Ra mắt album và đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Album tổng hợp gồm các bài hát của tốp 12. Doanh thu bán lẻ tính riêng thị trường Mỹ.

Thông tin
The Showtoppers
  • Ra mắt: 17/05, 2005
  • Hãng ghi âm: RCA Records
  • Xếp hạng: -
  • Chứng nhận RIAA: Vàng
  • Doanh thu bán lẻ: >500.000

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Ca sĩ Thông tin
Carrie Underwood Some Hearts
  • Ra mắt: 15 tháng 11, 2005
  • Hãng ghi âm: Arista Records
  • Xếp hạng: #2 (Billboard 200)
  • Chứng nhận RIAA: 7 Bạch kim
  • Doanh thu bán lẻ: 6.356.000
Carnival Ride
  • Ra mắt: 23 tháng 10, 2007
  • Hãng ghi âm: Arista Nashville
  • Xếp hạng: #1 (Billboard 200)
  • Chứng nhận RIAA: 2 Bạch kim
  • Doanh thu bán lẻ: 2.120.000
Bo Bice The Real Thing
  • Ra mắt: 13 tháng 12, 2005
  • Hãng ghi âm: RCA Records
  • Xếp hạng: #4 (Billboard 200)
  • Chứng nhận RIAA: Vàng
  • Doanh thu bán lẻ: 688,000
Mario Vazquez Mario Vazquez
  • Ra mắt: 26 tháng 09, 2006
  • Hãng ghi âm: J Records
  • Xếp hạng: #80 (Billboard 200)
  • Chứng nhận RIAA: --
  • Doanh thu bán lẻ: 24,000

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

(Danh sách này không bao gồm những album phát hành trước khi tham gia chương trình)

Ca sĩ Thông tin
Bo Bice See the Light
  • Ra mắt: 23 tháng 10, 2007
  • Hãng ghi âm: SugarMoney/StratArt Records
  • Xếp hạng: #150 (Billboard 200)
  • Chứng nhận RIAA: --
  • Doanh thu bán lẻ: --
Constantine Maroulis Constantine
  • Ra mắt: 07 tháng 08, 2007
  • Hãng ghi âm: Sony RED Distribution
  • Xếp hạng: --
  • Chứng nhận RIAA: --
  • Doanh thu bán lẻ: --
Celena Rae Invisible Woman
  • Ra mắt: 2007
  • Hãng ghi âm: YMC Records
Elizabeth Pha (Chandara) The Moon & the Stars
  • Ra mắt: 23 tháng 01, 2006
  • Hãng ghi âm: Independent
Jamie Paul Koehler It's Christmas Time
  • Ra mắt: 2005
  • Hãng ghi âm: Independent
Jared Yates All That I Am
  • Ra mắt: 2007
  • Hãng ghi âm: Independent
Jeff Johnson Enter In
  • Ra mắt: 19 tháng 07, 2005
  • Hãng ghi âm: Jeff Johnson Ministries
Jeff Johnson Glorious Day
  • Ra mắt: 14 tháng 08, 2007
  • Hãng ghi âm: Jeff Johnson Ministries
Jessica Sierra Deepest Secret- EP
  • Ra mắt: 2008
  • Hãng ghi âm: ???
Judd Harris Fly (with Visible from Space)
  • Ra mắt: 11 tháng 04, 2006
  • Hãng ghi âm: Independent
Kurtis Parks Something for Everyone
  • Ra mắt: 2005
  • Hãng ghi âm: Independent
Melinda Lira Melinda
  • Ra mắt: 2005
  • Hãng ghi âm: Independent
Nadia Turner Standing On Love (Single)
  • Ra mắt: 2008
  • Hãng ghi âm: Independent
Nikko Smith Revolution
  • Ra mắt: 2008
  • Hãng ghi âm: Independent
Sarah Mather Another Day
  • Ra mắt: 01 tháng 04, 2007
  • Hãng ghi âm: ???

Nguồn: Idolsmusic.com

DialIdol[sửa | sửa mã nguồn]

DialIdol là tên dùng chung của một chương trình chạy trên hệ Microsoft Windows và website liên quan, cả hai cho phép người dùng bình chọn trực tiếp cho thí sinh họ yêu thích, được xây dựng khi mùa thi thứ 4 diễn ra. Dựa vào kết quả bình chọn khán giả gửi về, chương trình này có thể đưa ra kết quả dự đoán thí sinh nào sẽ bị loại. Hệ thống chấm dứt thu thập thông tin ở tuần thi bán kết thứ 4 (Tốp 6), và dùng thông tin đã thu thập đưa ra kết quả (có thể có) về thí sinh Tốp 6 đến Tốp 2. Nhưng mãi đến mùa thi kế tiếp, hệ thống này mới được mở rộng dùng ở nơi công cộng.

Tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Corey Clark (mùa 2) và Paula Abdul gây chú ý bởi "scandal Maccarena". Lễ đăng quang mùa thi này đã phát một đoạn video ngắn phân trần về vụ bê bối này.
  • Trang Votefortheworst.com, của Survivor Sucks, đã viết bài về thí sinh Scott Savol, cho rằng thí sinh này hiển nhiên đi xa hơn các thí sinh khác trong cuộc thi để giành danh hiệu cao nhất... gây ra ảnh hưởng đáng kể đến hệ thống bình chọn.

Nhầm lẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 8 2008, thí sinh Melissa Lawson chỉ loạt vào Tốp 75, được kênh truyền hình Nashville Star xưng danh là người chiến thắng mùa thi 6.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]