Amur (tỉnh)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Tỉnh Amur
Амурская область (tiếng Nga)
—  Tỉnh  —

Cờ

Phù hiệu
Bài hát: không
Tọa độ: 53°33′B 127°50′Đ / 53,55°B 127,833°Đ / 53.550; 127.833Tọa độ: 53°33′B 127°50′Đ / 53,55°B 127,833°Đ / 53.550; 127.833
Địa vị chính trị
Quốc gia Liên bang Nga
Vùng liên bang Viễn Đông[1]
Vùng kinh tế Far Eastern[2]
Thành lập 20 tháng 10, 1932
Trung tâm hành chính Blagoveshchensk
Chính quyền (tại thời điểm tháng 8 năm 2010)
 -  <
 - Cơ quan lập pháp
Thống kê
Diện tích (theo điều tra năm 2002)[3]
 - Tổng cộng 363.700 km2 (140.425,4 sq mi)
Thứ tự toàn Nga 14
Dân số (điều tra 2010)[4]
 - Tổng cộng 830.103
 - Hạng 61
 - Mật độ[5] 2,28 /km2 (5,9 /sq mi)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
 - Đô thị 66,8%
 - Nông thôn 33,2%
Múi giờ
ISO 3166-2 RU-AMU
Biển số xe 28
Ngôn ngữ chính thức tiếng Nga[6]
http://www.amurobl.ru/

Tỉnh Amur (tiếng Nga: Аму́рская о́бласть, chuyển tự. Amurskaya oblast, IPA [ɐˈmurskəjə ˈobləsʲtʲ]) là một chủ thể liên bang của Nga (một oblast), nằm bên bờ sông Amursông Zeya. Tỉnh Amur có ranh giới với Cộng hòa Sakha ở phía bắc, vùng Khabarovsktỉnh tự trị Do Thái ở phía đông, tỉnh Hắc Long Giang của Trung Quốc ở phía nam, và vùng Zabaykalsky ở phía tây. Theo điều tra năm 2010, tỉnh Amur có 830.103 cư dân.[4]

Amur Krai (Аму́рский край) hay Priamurye (Приаму́рье) là tên gọi không chính thức của các lãnh thổ Nga nằm gần sông Amur được sử dụng vào cuối Đế quốc Nga, nó cũng gần tương đương với tỉnh Amur hiện nay.

Trung tâm của tỉnh là thành phố Blagoveshchensk, một trong những điểm định cư sớm nhất ở Viễn Đông Nga, được hình thành từ năm 1856. Thành phố là một trung tâm lâu năm của các lĩnh vực thương mại và khai thác vàng. Có thể tiếp cận tỉnh Amur bằng hai tuyến đường sắt là đường sắt xuyên Siberiđường sắt Baikal-Amur.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Dãy núi Stanovoy tạo thành đường ranh giới tự nhiên giữa Cộng hòa Sakha và tỉnh Amur, dãy núi này kéo dài trên toàn bộ đường ranh giới phía bắc của tỉnh. Thông lùn Siberilãnh nguyên núi cao mọc trên những vùng có độ cao lớn trên các ngọn núi này và các rừng thông rụng lá cùng các rừng bạch dươngthông mọc dọc theo các đồng bằng sông. Sông Zeya bắt nguồn từ các ngọn núi ở dông bắc tỉnh. Đoạn trung du của con sông lớn này bị ngăn đập và hình thành nên hồ chứa Zeysky rộng lớn, trải rộng ra 2.500 kilômetre vuông (970 sq mi) giữa dãy Stanovoy và một dãy núi chạy song song ở phía nam. Các vùng đất thấp giữa hai dãy núi này hình thành nên Đồng bằng Thượng Zeysky, mà chủ yếu là đồng lầy với các rừng thông rụng lá và rừng thông. Phía nam của dãy núi phía nam là đồng bằng sông Amur rộng lớn và chiếm 40% diện tích của tỉnh.

Bản đồ địa hình tỉnh Amur

Dọc theo ranh giới phía đông của tỉnh Amur là một loạt các ngọn núi, chia tách tỉnh Amur với vùng Khabarovsk. Những rừng thông rụng lá và lãnh sam-vân sam tạo thành đầu nguồn của sông Selemdzha, con sông này chảy về phía nam rồi đổ vào Zeya, sông Zeya chảy tới Blagoveschchensk rồi hợp vào sông Amur. Đông nam của Selemdzha là sông Bureyasông Arkhara, lưu vực của chúng vần còn các khu rừng phong phú nhất trong tỉnh với các loài như thông Triều Tiên (Pinus koraiensis), ngũ vị tử (Schisandra chinensis), sồi Mông Cổ (Quercus mongolica)), và các loài thực vật Mãn Châu khác. Các sông Zeya, Amur, và Bureya tạo thành một cái nôi của khu vực có tính đa dạng sinh học cao nhất tại tỉnh Amur —đồng bằng Zeysko-Burenskaya. Phần lớn đồng bằng này đã bị khai phá để phục vụ cho nông nghiệp, song vẫn còn lại các khoảnh đất hoang dã lớn.

Tài nguyên thiên nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Amur có trữ lượng đáng kể của nhiều loài khoáng sản, trữ lượng khoáng sản đã được xác minh trên địa bàn tỉnh Amur có giá trị vào khoảng 400 tỉ USD. Trong số đó, tài nguyên quan trọng nhất là vàng (trữ lượng lớn nhất tại Nga), bạc, titan, molybden, volfram, đồng, thiếc và các loại khác. Trữ lượng than đen mềmthan non được ước tính vào khoảng 70 tỉ tấn. Trữ lượng quặng sắt là khoảng 3,8 tỉ tấn. Trữ lượng tại mỏ Garin đã được thăm dò đầy đủ và người ta biết rằng nó có chứa 389 triệu tấn quặng sắt. Quặng có chứa tỷ lệ thấp các tạp chất bất lợi và có tỷ lệ sắt là 69,9%. Tỉnh Amur cũng là một nguồn cung cấp titan hứa hẹn, với Bolshoy Seyim là loại quan trọng nhất.[7]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Bắc sửTùy thư, khu vực tỉnh Amur ngày nay nguyên là lãnh thổ của một trong 5 nhóm người du mục Thất Vi (室韋) là Bát Thất Vi (钵室韋). Các điểm dân cư của họ nằm ở phía bắc của Y Lặc Hô Lý Sơn (伊勒呼里山) tại thượng du của Nộn Giang, phía nam của dãy núi Stanovoy, phía tây của Bureinsky và Tiểu Hưng An lĩnh và trải rộng đến biển Okhotsk ở đông bắc. Họ từng triều cống cho triều đình nhà Đường và rồi biến mất vào đầu thế kỷ 10 cùng với sự nổi lên của triều Liêu.

Sau đó, trong thế kỷ 13, khu vực bồn địa trung du sông Amursông Zeya là quê hương của người Daur và xa hơn về phía nam là người Ducher. Tổ tiên của người Daur được cho là có liên hệ gần gũi với người Khiết Đan và người Mông Cổ, trong khi người Ducher có thể là một nhánh của người Nữ Chân, về sau được gọi là người Mãn.

Khu vực bị người Mãn chinh phục vào những năm 1639-1640, sau khi họ đánh bại liên minh của người Evenk do Bombogor lãnh đạo. Khu vực tỉnh Amur ngày nay được trao trả lại cho nhà Thanh sau điều ước Nerchinsk song đã sáp nhập vào đế quốc Nga vào năm 1858 theo Điều ước Aigun giữa Nga và nhà Thanh.

Khu vực đã tiếp nhận dòng người Nga định cư đầu tiên vào giữa thế kỷ 17. Họ tìm kiểm một khí hậu ôn hòa hơn để trốn thoát khỏi phương bắc. Sau chiến tranh Nha phiến, khi Trung Hoa bộc lộ sự yếu đuối đối với thế giới bên ngoài, những người Nga lại một lần nữa thăm dò khu vực (hầu hết là người Cozak và tá điền). Dòng người cuối cùng đến trước khi hoàn thành tuyến đường sắt xuyên Siberi.

Tháng 4 năm 1920, Cộng hòa Viễn Đông, với thủ đô tại Chita, đã được thành lập từ Amur, Transbaikal, Kamchatka, Sakhalin, và Primorye như một nhà nước "vùng đệm" nhằm tránh chiến tranh với Nhật Bản. Nước cộng hòa này tồn tại cho đến năm 1922, khi nó được sáp nhập vào Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga. Tháng 1 năm 1926, vùng Amur trở thành một bộ phận của Lãnh thổ Viễn Đông, sau đó nó được chia thành các lãnh thổ Khabarovsk và Primorye vào năm 1938.

Năm 1948, tỉnh Amur cuối cùng đã được tách ra khỏi Lãnh thổ Khabarovsk và trở thành một khu vực riêng biệt của CHXHCNXVLB Nga. Khu vực đã chứng kiến sự phát triển kinh tế nhanh chóng dựa trên khai thác vàng, và mức sống được cải thiện với sự xuất hiện của các chuyên gia trẻ tuổi. Khi vùng liên bang Viễn Đông được mở rộng, nhu cầu về các dịch vụ như điện và nhà ở tăng lên và đã thúc đẩy các dự án xây dựng mới. Các khu đô thị mới được xây dựng cùng với nhà máy thủy điện Zeya (Zeiskaya GES), nó thậm chí còn cung cấp điện năng cho hầu hết vùng liên bang Viễn Đông.[8]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Các đô thị lớn nhất trong tỉnh là Blagoveshchensk, Belogorsk, Svobodny, Tynda, và Raychikhinsk.[4] Tỉnh Amur có 9 thành phố.

Phân chia hành chính tỉnh Amur
Số trên
bản đồ
Tên OKATO Dân số
(2010)
Diện tích
km²
Mật độ
người/km²
Trung tâm
hành chính
Belogorsk 10 410 000 000 67400 136 495,59
Blagoveshchensk 10 401 000 000 206700 353 585,55
Zeya 10 412 000 000 26700 45 593,33
Raychikhinsk 10 420 000 000 22300
Svobodny 10 430 000 000 58700 225 260,89
Tynda 10 430 000 000 37600 124 303,23
Shimanovsk 10 440 000 000 21600 50 432
Progress 10 465 000 000 12900
Uglegorsk 5400
1 Arkharinsky 10 205 000 000 18300 14400 1,27 Arkhara
2 Belogorsky 10 208 000 000 22700 2600 8,73 Belogorsk
3 Blagoveshchensky 10 211 000 000 19200 3100 6,19 Blagoveshchensk
4 Bureysky 10 215 000 000 30500 7100 4,3 Novobureysky
5 Zavitinsky 10 221 000 000 18900 3300 5,73 Zavitinsk
6 Zeysky 10 225 000 000 19900 87500 0,23 Zeya
7 Ivanovsky 10 228 000 000 30600 2600 11,77 Ivanovka
8 Konstantinovsky 10 230 000 000 14600 1800 8,11 Konstantinovka
9 Magdagachinsky 10 231 000 000 16700 14800 1,13 Magdagachi
10 Mazanovsky 10 232 000 000 4700 28300 0,17 Novokievsky Uval
11 Mikhaylovsky 10 235 000 000 16400 3000 5,47 Poyarkovo
12 Oktyabrsky 10 238 000 000 23100 3400 6,795 Ekaterinoslavka
13 Romnensky 10 240 000 000 10400 10100 1,03 Romny
14 Svobodnensky 10 242 000 000 15200 7300 2,08 Svobodny
15 Selemdzhinsky 10 245 000 000 11100 46700 0,24 Ekimchan
16 Seryshevsky 10 247 000 000 27900 3800 7,34 Seryshevo
17 Skovorodinsky 10 249 000 000 31400 20500 1,53 Skovorodino
18 Tambovsky 10 251 000 000 25400 2500 10,16 Tambovka
19 Tyndinsky 10 254 000 000 15800 83300 0,19 Tynda
20 Shimanovsky 10 255 000 000 7400 14600 0,51 Shimanovsk

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Dân số: 830.103 (điều tra dân số năm 2010 kết quả sơ bộ);[4] 902.844 (diều tra dân số năm 2002);[9] 1.057.781 (điều tra dân số năm 1989).[10]

1959[11]
người.
 % 1979[12]
người.
 % 1989[13]
người.
 % 2002[14]
người.
 %
tổng
số
 %
số
người
ших
xác nhận
dân-
tộc
2010[15][16]
người.
 %
tổng
số
 %
số
người
ших
xác nhận
dân-
tộc
Tổng 717514 100,00% 936451 100,00% 1050245 100,00% 902844 100,00% 830103 100,00%
người Nga 630080 87,81% 831062 88,75% 911969 86,83% 831004 92,04% 92,19% 775590 93,43% 94,33%
người Ukraina 56266 7,84% 57669 6,16% 70759 6,74% 31475 3,49% 3,49% 16636 2,00% 2,02%
người Belarus 9381 1,31% 13900 1,48% 17974 1,71% 7827 0,87% 0,87% 4162 0,50% 0,51%
người Armenia 178 0,02% 1051 0,11% 2712 0,26% 4045 0,45% 0,45% 3948 0,48% 0,48%
người Tatar 5006 0,70% 7939 0,85% 9095 0,87% 4889 0,54% 0,54% 3406 0,41% 0,41%
người Azerbaijan 115 0,02% 1303 0,14% 6072 0,58% 3213 0,36% 0,36% 2796 0,34% 0,34%
người Triều Tiên 213 0,03% 404 0,04% 408 0,04% 697 0,08% 0,08% 1756 0,21% 0,21%
người Evenk 1388 0,19% 1041 0,11% 1617 0,15% 1501 0,17% 0,17% 1481 0,18% 0,18%
người Uzbek 176 0,02% 977 0,10% 1962 0,19% 687 0,08% 0,08% 1121 0,14% 0,14%
người Đức 1100 0,15% 2130 0,23% 2349 0,22% 1760 0,19% 0,20% 1048 0,13% 0,13%
người Bashkir 168 0,02% 1450 0,15% 2662 0,25% 1183 0,13% 0,13% 881 0,11% 0,11%
người Chuvash 1587 0,22% 2208 0,24% 2238 0,21% 1206 0,13% 0,13% 783 0,09% 0,10%
người Moldova 504 0,07% 1086 0,12% 2318 0,22% 1122 0,12% 0,12% 736 0,09% 0,09%
người Hán 1061 0,15% 265 0,03% 200 0,02% 851 0,09% 0,09% 672 0,08% 0,08%
người Mordvin 4781 0,67% 2698 0,29% 2518 0,24% 1258 0,14% 0,14% 533 0,06% 0,06%
người Tajik 238 0,03% 515 0,05% 300 0,03% 0,03% 451 0,05% 0,05%
người Yakut 245 0,03% 699 0,07% 788 0,08% 314 0,03% 0,03% 449 0,05% 0,05%
người Kazakh 405 0,06% 933 0,10% 1736 0,17% 481 0,05% 0,05% 415 0,05% 0,05%
người Buryat 147 0,02% 663 0,07% 831 0,08% 474 0,05% 0,05% 406 0,05% 0,05%
người Ba Lan 906 0,13% 1225 0,13% 1297 0,12% 735 0,08% 0,08% 368 0,04% 0,04%
người Mari 112 0,02% 820 0,09% 778 0,07% 542 0,06% 0,06% 360 0,04% 0,04%
người Gruzia 193 0,03% 494 0,05% 845 0,08% 546 0,06% 0,06% 343 0,04% 0,04%
người Tuva 17 0,00% 25 0,00% 148 0,02% 0,02% 313 0,04% 0,04%
người Udmurt 318 0,04% 713 0,08% 851 0,08% 486 0,05% 0,05% 284 0,03% 0,03%
người Di-gan 168 0,02% 189 0,02% 289 0,03% 370 0,04% 0,04% 254 0,03% 0,03%
dân tộc khác 3014 0,42% 5277 0,56% 7425 0,71% 4283 0,47% 0,48% 3032 0,37% 0,37%
Xác nhận
dân tộc
717512 100,00% 936451 100,00% 1050233 100,00% 901397 99,84% 100,00% 822224 99,05% 100,00%
Không xác nhận
dân tộc
2 0,00% 0 0,00% 12 0,00% 1447 0,16% 7879 0,95%

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng sản phẩm quốc nội bình quân đầu người của tỉnh Amur vào năm 2007 là 131.039,60 rúp, trong khi con số trung bình của cả nước là 198.817 rúp.[17]

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Lĩnh vực công nghiệp đóng góp 18,3% trong tổng GRP (tổng sản phẩm khu vực).[7] Các ngành công nghiệp quan trọng nhất tại tỉnh Amur trong năm 2007 là chế tạo, chiếm 25,7% sản lượng công nghiệp. Lĩnh vực này chủ yếu là chế biến thực phẩm và đồ uống, chiếm 13% sản lượng công nghiệp. Các ngành khác bao gồm máy móc đóng tàu, xe nâng và vận chuyển, thiết bị khai mỏ, máy nông nghiệp, cơ cấu kim loại và hàng hóa, thiết bị điện cùng máy điện và các công cụ. Các công ty kỹ thuật lớn nhất trong tỉnh bao gồm OAO Svobodny Railroad Car Repair Plant, OAO Blagoveshchensk October Revolution Ship Building Plant và OAO Bureya-Kran.[7]

Khai mỏ và khai thác đá chiếm 19,9% sản lượng công nghiệp vào năm 2007. Tỉnh Amur xếp hạng thứ sáu tại Nga về khai thác vàng và có trữ lượng vàng lớn nhất đất nước. Tại đây cũng có một địa điểm khai mỏ và chế biến uranium lớn tại Oktyabrsky, gần biên giới Nga-Trung.[18] Ngoài ra, cũng có kế hoạch phát triển các mỏ khai khoáng các loại khoáng sản khác, như titan, sắt, đồng, niken, apatit. Tổng sản lượng than đá là 3.398 tấn. Tính đến năm 2007, bốn mỏ than đá do OOO Amur Coal điều hành, và thêm hai mỏ nữa được thăm dò. Tổng cộng, tỉnh Amur được ước tính có 90 mỏ than đen và than non, với trữ lượng tổng thể là 70 tỷ tấn. Bên cạnh đó, khai thác nhiên liệu chiếm 2,9% sản lượng công nghiệp.[7]

Năng lượng[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Amur thặng dư về năng lượng. Sản lượng điện của tỉnh vào năm 2007 là 9,9 TWh. Nhà cung cấp điện quan trọng nhất trên địa bàn là nhà máy thủy điện Zeyskaya với công suất lắp đặt 1.330 MW và sản lượng điện mỗi năm là 4,91 TWh. Nhà máy này do RusHydro quản lý. Công ty này cũng sở hữu nhà máy thủy điện Bureyskaya với công xuất lắp đạt 2.010 MW, mở cửa vào năm 2009. Sản lượng hàng năm của nó là 7.1 TWh.[7]

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng sản phẩm nông nghiệp của tỉnh Amur vào năm 2006 đạt 462,612 triệu USD. Con số này bao gồm sản lượng cây trồng (244,07 triệu USD). Tỉnh Amur sản xuất ra 60% sản lượng đỗ tương của Nga với khoảng 240.000 tấn mỗi năm.[7]

Ngoại thương[sửa | sửa mã nguồn]

Các sản phẩm xuất khẩu chính của tỉnh Amur là gỗ tho (1.172.900 m³ đến Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Nhật Bản, Kazakhstan và Ukraina), các mặt hàng kim loại (68.300 tấn đến Trung Quốc và Kazakhstan), và máy móc, thiết bị và xe vận tải (12.300 tấn đến Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Kazakhstan và Ukraine.) Các nước xuất khẩu thực phẩm và đồ uống chính đến tỉnh Amur là Trung Quốc, Kazakshtan, Uzbekistan và Philippines; hàng dệt may và giày dép đến từ Trung Quốc; còn máy móc và thiết bị đến từ Ukraina và Nhật Bản.[7]

Sân bay vũ trụ Vostochny[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 2010, thủ tướng Nga khi đó là Vladimir Putin đã tuyên bố tỉnh Amur sẽ là nơi xây dựng sân bay vũ trụ Vostochny mới, nhằm làm giảm sự phụ thuộc của Nga vào sân bay vũ trụ BaikonurKazakhstan.[19]

Địa phương kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Президент Российской Федерации. Указ №849 от 13 мая 2000 г. «О полномочном представителе Президента Российской Федерации в федеральном округе». Вступил в силу 13 мая 2000 г. Опубликован: "Собрание законодательства РФ", №20, ст. 2112, 15 мая 2000 г. (President of the Russian Federation. Sắc lệnh #849 of 13-5-2000 Về đại diện toàn quyền của Tổng thống Liên bang Nga tại Vùng liên bang. Có hiệu lực từ  13-5-2000.).
  2. ^ Госстандарт Российской Федерации. №ОК 024-95 27 декабря 1995 г. «Общероссийский классификатор экономических регионов. 2. Экономические районы», в ред. Изменения №5/2001 ОКЭР. (Gosstandart của Liên bang Nga. #OK 024-95 27-12-1995 Phân loại toàn Nga về các vùng kinh tế. 2. Các vùng kinh tế, as amended by the Sửa đổi #5/2001 OKER. ).
  3. ^ Федеральная служба государственной статистики (Cục thống kê nhà nước Liên bang) (21 tháng 5 năm 2004). Территория, число районов, населённых пунктов и сельских администраций по субъектам Российской Федерации (Diện tích, Số huyện, điểm dân cư và đơn vị hành chính nông thontheo Chủ thể Liên bang Nga)”. Всероссийская перепись населения 2002 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2002) (bằng tiếng Nga). Cục thống kê nhà nước Liên bang. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2011. 
  4. ^ a ă â b Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga) (2011). Предварительные итоги Всероссийской переписи населения 2010 года (Kết quả sơ bộ Điều tra dân số toàn Nga năm 2010)”. Всероссийская перепись населения 2010 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2010) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga. Truy cập 250-042011. 
  5. ^ Giá trị mật độ được tính bằng cách chia dân số theo điều tra năm 2010 cho diện tích chỉ ra trong mục "Diện tích". Lưu ý rằng giá trị này có thể không chính xác do diện tích ghi tại đây không nhất thiết phải được diều tra cùng một năm với điều tra dân số.
  6. ^ Ngôn ngữ chính thức trên toàn lãnh thổ Nga theo Điều 68.1 Hiến pháp Nga.
  7. ^ a ă â b c d đ “Amur Region”. Russia: All Regions Trade & Investment Guide. CTEC Publishing LLC. 2008. 
  8. ^ Amur Region
  9. ^ Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga) (21 tháng 5 năm 2004). Численность населения России, субъектов Российской Федерации в составе федеральных округов, районов, городских поселений, сельских населённых пунктов – районных центров и сельских населённых пунктов с населением 3 тысячи и более человек (Dân số Nga, các chủ thể Liên bang Nga trong thành phần các vùng liên bang, các huyện, các điểm dân cư đô thị, các điểm dân cư nông thôn—các trung tâm huyện và các điểm dân cư nông thôn với dân số từ 3 nghìn người trở lên)”. Всероссийская перепись населения 2002 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2002) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê quốc gia Liên bang Nga. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  10. ^ Всесоюзная перепись населения 1989 г. Численность наличного населения союзных и автономных республик, автономных областей и округов, краёв, областей, районов, городских поселений и сёл-райцентров. (Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989. Dân số hiện tại của liên bang và các cộng hòa tự trị, tỉnh và vùng tự trị, krai, tỉnh, huyện, các điểm dân cư đô thị, và các làng trung tâm huyện.)”. Всесоюзная перепись населения 1989 года (Điều tra dân số toàn liên bang năm 1989) (bằng tiếng Nga). Demoscope Weekly (website của Viện Nhân khẩu học Đại học Quốc gia—Trường Kinh tế. 1989. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  11. ^ Демоскоп. Всесоюзная перепись населения 1959 года. Национальный состав населения по регионам России: Амурская область
  12. ^ Демоскоп. Всесоюзная перепись населения 1979 года. Национальный состав населения по регионам России: Амурская область
  13. ^ Демоскоп. Всесоюзная перепись населения 1989 года. Национальный состав населения по регионам России: Амурская область
  14. ^ Всероссийская перепись населения 2002 года: Население по национальности и владению русским языком по субъектам РФ
  15. ^ Официальный сайт Всероссийской переписи населения 2010 года. Информационные материалы об окончательных итогах Всероссийской переписи населения 2010 года
  16. ^ Всероссийская перепись населения 2010 года. Официальные итоги с расширенными перечнями по национальному составу населения и по регионам.: см.
  17. ^ Валовой региональный продукт на душу населения Федеральная служба государственной статистики
  18. ^ Shandala N, Filonova A, Titov A, Isaev D, Seregin V, Semenova V, and Metlyaev EG (2009), Radiation situation nearby the uranium mining facility, 54th Annual Meeting of the Health Physics Society, 12–16 July 2009, Minneapolis, MN, USA.
  19. ^ BBC News 20 tháng 7 năm 2010

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Амурское областное Собрание. №40-ОЗ 13 декабря 1995 г. «Устав (основной закон) Амурской области», в ред. Закона №389-ОЗ от 21 сентября 2007 г. (Amur Oblast Assembly. #40-OZ December 13, 1995 Charter (Basic Law) of Amur Oblast, as amended by the Law #389-OZ of September 21, 2007. ).
  • Губернатор Амурской области. Постановление №607 от 25 октября 2005 г. «О совершенствовании системы информационного обеспечения органов государственной власти и местного самоуправления области». (Governor of Amur Oblast. Resolution #607 of October 25, 2005 On Improving the Information System Serving the Organs of the State Power and the Local-Self Government of the Oblast. ).
  • Thông tin liên quan đến các bộ lạc Thất Vi và mối quan hệ của họ với người Khiết Đan
  • (tiếng Nga) Lịch sử tỉnh Amur
  • (tiếng Anh) Amur oblast landscapes views