An Lão, Hải Phòng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

An Lão là một huyện của Hải Phòng.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện cách trung tâm thành phố Hải Phòng 18 km về phía Tây Nam. Phía Bắc giáp với quận Kiến An, phía Nam giáp với huyện Tiên Lãng, phía Tây giáp với huyện Thanh Hà, Kim Thành tỉnh Hải Dương, phía Đông giáp với huyện Kiến Thụy.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

An Lão (安老=bình yên lâu dài) nguyên là vùng đất cổ mà thời Hùng Vương thuộc bộ Dương Tuyền (Thang Tuyền), thời Tần thuộc quận Nam Hải, Hán thuộc quận Giao Chỉ, sang nhà Đường đặt thuộc trấn Hải Môn, sau gọi là châu Hồng.

Buổi đầu độc lập, ba triều Đinh, Tiền Lê, vẫn đặt thế. Nhà Trần đặt thuộc lộ Hồng Châu và từ đó, An Lão trở thành một huyện (gồm đất đai của An Lão, Kiến Thuỵ, Kiến AnĐồ Sơn hiện nay) thuộc châu Đông Triều, phủ Tân Hưng.

Năm 1468 nhà Lê đặt thuộc Thừa tuyên Nam Sách và năm sau, Vua Lê Thánh Tông cắt một phần An Lão lập huyện Nghi Dương, về sau thuộc phủ Kiến Thụy (7 huyện: Nghi Dương, Giáp Sơn, Đông Triều, An Lão, Kim Thanh, An Dương, Thuỷ Đường. Thời Nguyễn, phủ Kinh Môn lĩnh hai huyện, tính nhiếp 1 huyện là: Giáp Sơn, Thuỷ Đường và Đông Triều) trấn Hải Dương. Khi nhà Mạc (莫朝, 1527-1592) lập kinh đô ở Nghi Dương (nay là quận Kinh Dương) lấy các vùng quanh đó: Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình đều cho lệ vào Dương Kinh 阳京. Thời ấy, do cách không xa cửa biển là mấy nên ven sông Úc là bãi bồi, đầy vũng trũng, sú vẹt còn hoang thưa lắm, quan quân nhà Mạc đưa tre từ Thanh Hoá về, tập hợp dân đóng kè, quai đê lấn biển, nắn sông, lập nên làng ấp, trong đó có các làng vùng Cao Mật. Lâu dần, dân khai phá bồi đắp thành đồng lúa.

Thời Lê Trung hưng đổi lại như cũ và vì Hải Dương đã được bình định nên 1741, Trịnh Chúa chia làm bốn đạo: Thượng Hồng, Hạ Hồng, An Lão, và Đông Triều, mỗi đạo đặt một chức tuần thủ để chiếu theo địa phận vỗ về dân chúng. Tháng 9 nhuận năm Cảnh Hưng thứ 28 (Đinh Hợi, 1767), Trịnh Sâm lấy cớ rằng trong nước điêu tàn hao hụt, nếu đặt nhiều quan chức chỉ phiền nhiễu cho dân, bèn hợp lại hoặc bỏ bớt gồm 4 phủ, 29 châu huyện. Những phủ và châu huyện này đều cho phủ huyện tiếp cận kiêm lý. Khi đó An Lão do Thuỷ Đường kiêm lý.

Thời Nguyễn, An Lão trở thành một huyện của tỉnh Hải Dương (1831), từ năm Minh Mệnh thứ 14 (1833) nằm trong Phủ Kiến Thuỵ 建瑞府 (gồm 4 huyện: Nghi Dương 宜陽, Kim Thành 金城, An Dương 安陽 và An Lão 安老) do huyện Kim Thành kiêm nhiếp (từ 1851). Sau thuộc tỉnh Hải Phòng vào năm 1887 và do phủ Kiến Thụy 建瑞府 kiêm nhiếp. Cũng chính dịp này làng Hương (Cao Mật, An Lão) đổi thành đổi thành Phương (Lạp), cũng có nghĩa là “thơm”, tuy có khác: “Phương” 芳 là mùi thơm của “cỏ chi”, chứ không phải mùi thơm của hoa, lúa gạo nói chung như 芗. Thời Đồng Khánh (同慶, 1885-1889) An Lão có 10tổng với 62 xã, thôn.

Khi Pháp lập tỉnh Kiến An (02/1906) An Lão thuộc tỉnh này, gồm các tổng: An Luận 安論 (8 xã), Văn Đẩu 文斗 (7 xã), Phù Lưu 芙畱 (6 xã), Biều Đa 裒多 (7 xã), Cao Mật 高密 (8 xã), Du Viên 榆圜 (5 xã), Đâu Kiên 兜堅 (8 xã), Câu Thượng 枸上 (7 xã), Quan Trang 觀莊 (8 xã), Phương Chử 方渚 (7 xã), Đại Hoàng 大黃 (7 xã), Đại Phương Lang 大方榔 (7 xã).

Trong Cách mạng tháng Tám, đêm 16 rạng ngày 17 tháng 8 năm 1945 Tự vệ An Lão xuất phát từ căn cứ Câu Trung cùng đông đảo quần chúng nhân dân vũ trang đột nhập huyện lỵ buộc [[Tri huyện cùng toàn bộ lính tráng hạ súng đầu hàng, nộp ấn tín, tài liệu và vũ khí cho cách mạng. Chính quyền Cách mạng thành lập ngày 25/8.

Đầu cuộc kháng chiến, tháng 3/1947 liên tỉnh uỷ Hải - Kiến thành lập [[Đảng bộ huyện An Lão lãnh đạo quân và dân xây dựng huyện, kháng chiến chống thực dân Pháp và củng cố hệ thống chính trị. Do vậy đã phá tan nhiều cuộc càn quét, tàn phá của địch, mà tiêu biểu là cuộc chiến đấu chống càn ngày 21 tháng 4 năm 1953 tại làng Đại Điền xã Tân Viên. Sau đó, [[ba trăm ngày cuối cùng của thực dân Pháp ở An Lão là ba trăm ngày giằng co quyết liệt giữa quân và dân ta với bọn thực dân phong kiến, kết thúc 9 năm kháng chiến, chấm dứt sự thống trị gần 100 năm của Pháp.

Ngày 8/5/1955 chính quyền huyện ra mắt nhân dân. Trong Kế hoạch 5 năm lần thứ Nhất, ngày 27/10/1962, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khoá II đã có Nghị quyết về việc hợp nhất Hải Phòng- Kiến An thành thành phố Hải Phòng và An Lão là thành viên của thành phố Cảng từ ngày đó. Ngày 04/4/1969 An Lão nhập với Kiến Thuỵ thành An Thuỵ rồi 11 năm sau, 16 xã cũ của An Lão nhập vào thị xã Kiến An thành huyện Kiến An bởi Quyết định số 71/QĐ-CP ngày 05/3/1980 của HĐCP lập huyện An Thuỵ, Đồ Sơn và Kiến An.

Đến 8/8/1988 tái lập huyện An Lão theo Quyết định số 100/HĐBT của [[Hội đồng Bộ trưởng. Khi Kiến An, Đồ Sơn nâng thành Quận, lập quận mới Dương Kinh thì một số thôn, xã của An Lão được cắt về đó và địa giới An Lão thu hẹp lại.

Về ranh giới: Phía Bắc giáp huyện An Dương, ranh giới là sông Lạch Tray; phía Nam giáp huyện Tiên Lãng, ranh giới là sông Vạn Úc; phía Tây giáp tỉnh Hải Dương; phía Đông Nam giáp huyện Kiến Thụy; phía Đông giáp quận Kiến An.

Đến 2003 An Lão có diện tích tự nhiên là 11.458,45 ha chiếm 7,4% diện tích Hải Phòng.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 05 tháng 4 năm 2007 Chính phủ ra Nghị định Số: 54/2007/NĐ-CP “Thành lập thị trấn Trường Sơn thuộc huyện An Lão trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và nhân khẩu dân số hiện có của xã Trường Sơn”. Sau khi thành lập thị trấn Trường Sơn: huyện An Lão có 17 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 2 thị trấn An Lão và Trường Sơn và 15 xã:

  • Xã Bát Trang
  • Xã Trường Thọ
  • Xã Trường Thành
  • Xã An Tiến
  • Xã Quang Hưng
  • Xã Quang Trung.
  • Xã Quốc Tuấn
  • Xã An Thắng
  • Xã Tân Dân
  • Xã Thái Sơn
  • Xã Tân Viên
  • Xã Mỹ Đức
  • Xã Chiến Thắng
  • Xã An Thọ
  • Xã An Thái

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Các đơn vị hành chính cấp quận huyện trực thuộc thành phố Hải Phòng, Việt Nam
Quận (7): Dương Kinh | Đồ Sơn | Hải An | Hồng Bàng | Kiến An | Lê Chân | Ngô Quyền
Huyện (8): An Dương | An Lão | Bạch Long Vĩ | Cát Hải | Kiến Thụy | Thủy Nguyên | Tiên Lãng | Vĩnh Bảo


Thuốc lào:Cao Mật - An Lão - Hải Phòng