An Phú, An Giang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
An Phú
Huyện
An Phu market.jpg
Trung tâm thương mại huyện An Phú
Địa lý
Tọa độ: 10°51′8″B 105°7′9″Đ / 10,85222°B 105,11917°Đ / 10.85222; 105.11917Tọa độ: 10°51′8″B 105°7′9″Đ / 10,85222°B 105,11917°Đ / 10.85222; 105.11917
Diện tích 226 km2
Dân số  
 Tổng cộng 192.000 người
Dân tộc Kinh, Chăm, Hoa
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Huyện lỵ Thị trấn An Phú
 Chủ tịch UBND Lâm Minh Giang
Phân chia hành chính 12 xã, 02 Thị trấn

An Phú là một huyện thuộc tỉnh An Giang, nằm ở đỉnh cực Tây Bắc của vùng đồng bằng sông Cửu Long, ăn sâu vào lãnh thổ Campuchia. Đây cũng là nơi tiếp nhận dòng chảy đầu tiên của sông Hậu từ Campuchia vào Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phía Tây và Bắc giáp Campuchia, đường biên giới dài khoảng 40,5 km.
  • Phía Đông giáp thị xã Tân Châu
  • Phía Nam giáp ngã ba sông Hậu ở Châu Đốc.

Điều kiện tự nhiên[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện An Phú có địa thế chia làm 3 phần, sông Hậu chạy xuyên ở giữa chia đôi mảnh đất, đồng thời sau nhiều năm phù sa tích tụ tạo nên cù lao An Phú nổi lên giữa sông chia thành 2 nhánh nhỏ: nhánh phụ bên bờ tây rộng chừng 300 m (gọi là sông Bình Di), nhánh chính bên bờ đông hơi rộng hơn.

Hầu hết diện tích huyện An Phú đều là đồng bằng, có nhiều nơi bị ngập úng thường xuyên. Đất đai chủ yếu là đất phù sa. Hàng năm, An Phú chịu ảnh hưởng của mùa lũ hay còn gọi là mùa nước nổi. Khoảng từ tháng 7 (âm lịch), mực nước trên sông Mê Kông dâng cao, mưa nhiều kết hợp với lượng nước tích tụ tại Biển Hồ của Campuchia làm gần như toàn bộ khu vực này chìm trong biển nước, độ ngập trung bình khoảng 2-3 mét. Thời gian ngập lụt kéo dài khá lâu, thường là khoảng 4, 5 tháng nên có ảnh hưởng rất lớn đến tập quán sinh hoạt, sản xuất của người dân.

Địa thế của An Phú có vai trò quan trọng về chính trị và kinh tế, án ngữ nơi đầu nguồn của sông Mê Kông khi từ Campuchia vào Việt Nam, nằm trên tuyến đường giao thông thủy nối liền các tỉnh miền Tây ven sông Hậu Việt Nam với thủ đô Phnôm Pênh của Campuchia. Trước đây việc giao thông ở An Phú với Châu Đốc khá bất tiện vì phải qua phà, hiện nay cầu Cồn Tiên đã hoàn thành tạo sự thông suốt giao thông với quốc lộ 91.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Tại An Phú, người Kinh chiếm đa số, bên cạnh đó còn có cộng đồng người Chăm,người Hoa.

một con đường láng nhựa ở xã Phú Hữu

Điểm đáng lưu ý là không như hầu hết các địa phương giáp biên giới khác của tỉnh An Giang, tại An Phú không có người Khmer định cư mà chỉ có một số ít sang buôn bán nhỏ.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ huyện An Phú

Huyện An Phú có 14 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 02 thị trấn và 12 xã:

  • Các thị trấn:
  1. thị trấn huyện lị An Phú
  2. thị trấn Long Bình
  • Các xã:
  1. Đa Phước
  2. Khánh An
  3. Khánh Bình
  4. Nhơn Hội
  5. Phú Hội
  6. Phú Hữu
  7. Phước Hưng
  8. Quốc Thái
  9. Vĩnh Hậu
  10. Vĩnh Hội Đông
  11. Vĩnh Lộc
  12. Vĩnh Trường

Lịch sử hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Đất An Phú bắt đầu được khai phá từ năm 1823, khi đào kênh Vĩnh Tế, Thoại Ngọc Hầu đã lập các xã Vĩnh Lộc, Vĩnh Hậu, Vĩnh Trường, Vĩnh Hội Đông. Vào năm 1832, khi tỉnh An Giang ra đời thì đất này thuộc về tổng Châu Phú, huyện Tây Xuyên, phủ Tuy Biên - một trong hai phủ của tỉnh An Giang lúc bấy giờ.

Thời Pháp thuộc, vùng đất An Phú lại nằm trong khu vực tổng An Phú thuộc quận Châu Thành, tỉnh Châu Đốc. Đến năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa quyết định đổi tên quận Châu Thành thành quận Châu Phú thuộc tỉnh An Giang vừa mới thành lập. Quận Châu Phú khi đó vẫn gồm 3 tổng: Châu Phú, An Phú và An Lương.

Ngày 6 tháng 8 năm 1957, tách một phần phía bắc quận Châu Phú để thành lập quận An Phú thuộc tỉnh An Giang, bao gồm tổng An Phú với 9 xã và 4 xã của tổng Châu Phú là Đa Phước, Vĩnh Hậu, Vĩnh Phong, Vĩnh Trường. Quận An Phú gồm 2 tổng, 13 xã là: Nhơn Hội, Phú Hữ, Khánh An, Khánh Bình, Phước Hưng, Phú Hội, Phũm Soài, Vĩnh Hội Đông, Vĩnh Lộc thuộc tổng An Phú; Vĩnh Hậu, Vĩnh Phong, Đa Phước, Vĩnh Tường thuộc tổng Châu Phú. Quận lỵ đặt tại xã Phước Hưng.

Ngày 8 tháng 9 năm 1964, chính quyền Việt Nam Cộng hòa quyết định tái lập tỉnh Châu Đốc. Quận An Phú thuộc về tỉnh Châu Đốc, gồm 11 xã là: Khánh An, Khánh Bình, Nhơn Hội, Phước Hưng, Vĩnh Hội Đông, Phú Hội, Đa Phước, Vĩnh Trường, Vĩnh Hậu, Vĩnh Lộc và Phú Hữu. Địa giới này tồn tại đến năm 1975.

Về phía chính quyền Cách mạng, sau năm 1945, địa bàn An Phú ngày nay thuộc tỉnh Châu Ðốc. Ngày 6 tháng 3 năm 1948, vùng đất này được đặt thành huyện Châu Phú B, thuộc tỉnh Long Châu Tiền. Ngày 27 tháng 6 năm 1951, huyện Châu Phú B thuộc tỉnh Long Châu Sa. Tháng 10 năm 1954, vùng đất An Phú trở lại thuộc quận Châu Thành, tỉnh Châu Đốc.

Giữa năm 1957, chính quyền Cách mạng cũng quyết định thành lập huyện An Phú thuộc tỉnh An Giang. Tháng 10 năm 1961, tỉnh ủy An Giang hợp nhất hai huyện Tân Châu và An Phú thành liên huyện Tân Châu - An Phú. Tháng 2 năm 1972, lại tách thành hai huyện như cũ. Tháng 05 năm 1974, huyện An Phú thuộc tỉnh Long Châu Tiền. Tháng 12 năm 1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết sáp nhập hai huyện Tân Châu và An Phú thành huyện Phú Châu, thuộc tỉnh An Giang.

  • Quyết định 181-CP[1] ngày 25 tháng 04 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ:
  1. Sáp nhập ấp Long Châu của xã Long Phú, một phần ấp Phú An B, ấp Phú Hưng và ấp Phú Hữu của xã Phú Vĩnh vào xã Tân An.
  2. Sáp nhập ấp Tân Thạnh của xã Tân An vào xã Vĩnh Hòa.
  3. Chia xã Tân An thành hai xã lấy tên là xã Long An và xã Tân An.
  4. Sáp nhập Cù Lao Cở Túc (tức ấp Vĩnh Thạnh) của xã Vĩnh Trường vào xã Vĩnh Hậu.
  5. Sáp nhập ấp Long Hưng của xã Long Phú vào thị trấn Tân Châu
  6. Thành lập ở vùng kinh tế mới Kinh Năm một xã mới lấy tên là xã Phú Lộc
  • Quyết định 8-HĐBT[2] ngày 12 tháng 01 năm 1984 của Hội đồng Bộ trưởng:
  1. Thành lập xã Lê Chánh trên cơ sở tách ấp Vĩnh Thạnh của xã Châu Phong và ấp Phú Hữu của xã Phú Vĩnh.
  2. Thành lập xã Quốc Thái trên cơ sở tách ấp 4 của xã Nhơn Hội, ấp 1 của xã Phước Hưng và các cồn Bắc, cồn Nam, cồn Liệt sĩ của xã Phú Hữu.
  3. Thành lập thị trấn An Phú trên cơ sở tách ấp Phước Thạnh của xã Đa Phước và một phần ấp 4 của xã Phước Hưng.
  4. Sáp nhập một phần ấp 1 của xã Vĩnh Lộc vào xã Phú Hữu cùng huyện.
  • Ngày 13 tháng 11 năm 1991 huyện Phú Châu chia lại thành hai huyện An PhúTân Châu.
  • Nghị định 52/2005/NĐ-CP[3] ngày 12 tháng 04 năm 2005 của Chính phủ về việc thành lập thị trấn Long Bình trên cơ sở 174 ha diện tích tự nhiên và 4.054 nhân khẩu của xã Khánh Bình, 248 ha diện tích tự nhiên và 3.738 nhân khẩu của xã Khánh An.
  1. Thị trấn Long Bình có 422 ha diện tích tự nhiên và 7.792 nhân khẩu.
  2. Khánh Bình còn lại 730 ha diện tích tự nhiên và 7.004 nhân khẩu.
  3. Khánh An còn lại 541 ha diện tích tự nhiên và 11.046 nhân khẩu.
  • Nghị quyết số 40/NQ-CP[4] ngày 24 tháng 08 năm 2009 của Chính phủ về điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Phú Tân, thành lập thị xã Tân Châu, thành lập các phường thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:
  1. Điều chỉnh 347 ha diện tích tự nhiên và 1.062 nhân khẩu của xã Phú Lộc, huyện Tân Châu vào xã Phú Hữu thuộc huyện An Phú quản lý.
  2. Điều chỉnh 513 ha diện tích tự nhiên và 1.415 nhân khẩu của xã Phú Lộc, huyện Tân Châu vào xã Vĩnh Lộc thuộc huyện An Phú quản lý.
  3. Phú Hữu có 3.975 ha diện tích tự nhiên và 18.866 nhân khẩu.
  4. Vĩnh Lộc có 4.116 ha diện tích tự nhiên và 13.688 nhân khẩu.
  5. Huyện An Phú có 22.637,7 ha diện tích tự nhiên và 191.328 nhân khẩu, có 14 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Đa Phước, Khánh An, Khánh Bình, Nhơn Hội, Phú Hội, Phú Hữu, Phước Hưng, Quốc Thái, Vĩnh Hậu, Vĩnh Hội Đông, Vĩnh Lộc, Vĩnh Trường và thị trấn An Phú, thị trấn Long Bình.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ các xã, thị trấn đều có trường học từ cấp mẫu giáo đến trung học cơ sở, huyện có 4 trường trung học phổ thông là: thpt An Phú, thpt Quốc Thái, thpt An Phú 2 (trước đây là trường bán công), thpt Vĩnh Lộc. Ngoài ra còn có 1 trung tâm giáo dục thường xuyên.

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Dân cư ở đây chủ yếu là nông dân, hầu hết diện tích đều trồng lúa (vùng này là một trong những nơi có đất phù sa tốt của tỉnh) ngoài ra còn nuôi trồng thủy sản nước ngọt. Hàng năm, cả huyện này đều chịu ảnh hưởng của mùa nước nổi, khoảng từ tháng 6 đến tận tháng 12, ngập lụt ruộng đồng là chuyện thường niên ở đây từ xa xưa nên tuy co ảnh hưởng nhưng người dân ở đây đã quen thuộc.

bờ sông Hậu ngang thị trấn An Phú

Huyện An phú là địa phương có đường biên giới với Campuchia khá dài và thường có sự đi lại của người dân hai bên. Ở phía bên kia biên giới, đối diện thị trấn Long Bình có một khu chợ của Campuchia gọi là Cỏ Thum (hoặc Chạy Thum, Kor Thum) mua bán tấp nập nhưng không kém phần phức tạp.

Tính theo đường bộ thì từ An Phú đi thủ đô Phnom Pênh của Campuchia là đường gần nhất từ Việt Nam đi sang nên tạo điều kiện tốt cho giao thương trong vùng.

Văn hóa xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Người Kinh[sửa | sửa mã nguồn]

Do điều kiện địa lý, hầu hết nhà cửa xây theo lối nhà sàn nhỏ gọn. Cuộc sống sinh hoạt gắn liền với nông nghiệp. Di tích lịch sử không nhiều, chủ yếu là các chùa, đình làng. Phần đông người dân theo đạo Hòa Hảo, số khác theo đạo Cao Đài, đạo Phật, đạo Bửu Sơn Kỳ Hương... Lễ hội truyền thống không nhiều.

Người Chăm[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng đồng người Chăm tại An Phú thuộc vào cộng đồng chăm Hồi giáo và có dân số đông nhất tỉnh An Giang, ước tính đến năm 2007 là khoảng 6.000 người trong tổng số khoảng 12.000 người toàn tỉnh. Họ chính là con cháu của những nhóm người Chăm mà ngày trước các tướng quân nhà Nguyễn là Lê Văn Đức, Doãn Uẩn, Trương Minh Giảng dẫn về từ Chân Lạp, sau khi nhà Nguyễn cho quân rút khỏi Trấn Tây Thành (Nam Vang), rồi cho định cư dọc theo bên bờ sông Hậu nhằm làm đội tiền trạm bảo vệ biên giới với Chân Lạp[5]. Họ sống tập trung thành từng xóm nhỏ ở các xã đầu nguồn giáp giới Campuchia và hạ nguồn giáp Châu Đốc. Toàn bộ người dân đều theo đạo Hồi, có các thánh đường Hồi giáo khá lớn tại các xã có đông người Chăm sinh sống. Cuộc sống sinh hoạt mang nét riêng, có các lễ hội mang bản sắc dân tộc rõ rệt. Ngành nghề chủ yếu là nông nghiệp, sản xuất thủ công (nổi tiếng với nghề dệt khăn làm hàng lưu niệm), đánh bắt thủy sản (người Chăm ở đây rất giỏi nghề chài lưới, người Chăm không ăn thịt lợn), một số khác đi buôn bán khắp các nơi ở miền TâyThành phố Hồ Chí Minh (người Chăm có tập quán này từ rất lâu).

Trong giai đoạn khó khăn về kinh tế cuối thập niên 1980, một lượng người Chăm đã đi sang các nước khác (đặc biệt là Malaysia do có văn háo tương đồng). Người Chăm ở đây cũng có người từng sang hành lễ tại thánh địa MeccaẢ rập Xê-út.Có ý kiến nhận xét rằng những xóm Chăm ở đây không khác mấy với các xóm của người Mã LaiMalaysia[6].

Người Hoa[sửa | sửa mã nguồn]

Là con cháu của những thương nhân từng buôn bán trên tuyến đường Nam Vang - Châu Đốc, và một số nơi cư đến. Họ sống chủ yếu tại các chợ, sau nhiều năm định cư đã gần như hòa trộn vào cộng đồng người Kinh.

Hàng năm huyện An Phú thường tổ chức ngày hội văn hóa vào ngày 2 tháng 9 với thuyền hoa diễu hành trên sông. Vào dịp này, phía trước nhà dân thường treo một cây đèn lồng dọc theo hai bên đường kéo dài từ cầu Cồn Tiên giáp thị xã Châu Đốc đến tận thị trấn biên giới Long Bình.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích - Thắng cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Búng Bình Thiên
  • Búng Bình Thiên còn có tên gọi là Hồ Nước Trời, thuộc huyện An Phú, tỉnh An Giang, Việt Nam. Theo sách Địa chí An Giang (tập 1)[7], hồ Búng Bình Thiêngồm Búng Bình Thiên lớnBúng Bình Thiên nhỏ, nằm giữa 2 sông Bình Disông Hậu tại các xã Khánh Bình, Nhơn Hội và thị trấn Long Bình (đều thuộc huyện An Phú). Trong đó, Búng Bình Thiên lớn có diện tích mặt nước trung bình là 193 ha, độ sâu trung bình là 6 m; Búng Bình nhỏ có diện tích mặt nước trung bình là 10 ha, độ sâu trung bình là 5 m[8]. Với diện tích như vậy, Búng Bình Thiên được coi là một trong những hồ nước ngọt lớn nhất miền Tây Nam Bộ[9].
Cây đa cổ thụ
  • Cây đa cổ thụ hiện ở tại ấp Tân Thạnh, thị trấn Long Bình, huyện An Phú. Cây cao khoảng 30 m, chu vi thân ở phần gần gốc là 26, 8 m. Năm 2005, sau khi lấy mẫu giám định, ngành chức năng đã xác định độ tuổi của cây là trên 340 năm, và đây là cây đa lâu năm nhất của tỉnh [10].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quyết định 181-CP năm 1979 điều chỉnh địa giới và đổi tên một số xã và thị trấn thuộc tỉnh An Giang do Hội đồng Chính phủ ban hành
  2. ^ Quyết định 8-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới phường, thị trấn và một số xã thuộc tỉnh An Giang do Hội đồng Bộ trưởng ban hành
  3. ^ Nghị định 52/2005/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập phường, xã, thị trấn thuộc thành phố Long Xuyên và các huyện Tịnh Biên, An Phú, Thoại Sơn, Tân Châu, tỉnh An Giang
  4. ^ Nghị quyết số 40/NQ-CP về điều chỉnh địa giới hành chính xã thuộc huyện Tân Châu, huyện An Phú, huyện Phú Tân, thành lập thị xã Tân Châu, thành lập các phường thuộc thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang do Chính phủ ban hành
  5. ^ Thất sơn mầu nhiệm- Nguyễn Văn Hầu
  6. ^ VTV.vn
  7. ^ Địa chí An Giang (tập 1), tr. 122.
  8. ^ Tuy nhiên, theo Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh An Giang và sách Việt Nam đất nước giàu đẹp (tập 2, tr. 344), thì Búng Bình Thiên rộng khoảng 300 ha vào mùa khô, và tỏa rộng cả ngàn ha vào mùa nước nổi, với độ sâu trung bình là 4 m.
  9. ^ Nguồn: Kỷ lục An Giang 2009, (tr. 23) và Sở Khoa học & Công nghệ tỉnh An Giang [1].
  10. ^ Nguồn: Nhiều người soạn, Kỷ lục An Giang 2009, Nhà xuất bản Thông Tấn, 2010, tr. 24.