Anawrahta

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Anawrahta
အနော်ရထာ
Anawrahta at National museum.JPG
Tượng Anawrahta
Vua nhà Pagan
Tại vị 1044–1078
Đăng quang Tháng 12 năm 1044
Tiền nhiệm Sokkate
Kế vị Sawlu
Thông tin chung
Phối ngẫu Pyinsa Kalayani
Saw Mon Hla
Manisanda
Hậu duệ Sawlu
Kyansittha
Tên đầy đủ Min Saw
Maha Yaza Thiri Aniruddha Dewa
Hoàng tộc Nhà Pagan
Thân phụ Kunhsaw Kyaunghpyu
Thân mẫu Myaunk Pyinthe
Sinh 1015
Pagan
Mất 1078 (thọ 63)
Pagan
Tôn giáo Phật giáo Thượng tọa bộ (cải đạo từ A Lợi Tăng tông
Burmese character k.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Myanma. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Myanma.

Anawrahta Minsaw (tiếng Miến Điện: အနော်ရထာ မင်းစော, phát âm [ʔənɔ̀jətʰà mɪ́ɴ sɔ́]; 1015–1078) là một vị vua nhà Pagan, người sáng lập đế quốc Myanma thứ nhất. Ông được các sử gia coi là vị vua quan trọng nhất trong lịch sử Myanma. Anawrahta đã biến nhà nước của người Miến từ một tiểu quốc ở vùng đất khô ở Thượng Miến thành một đế quốc, tạo lập cơ sở cho đất nước Myanma hiện nay. Lịch sử thành văn của Myanma chỉ chính thức bắt đầu từ khi ông lên ngôi vào năm 1044.

Anawrahta đã thống nhất toàn thể thung lũng sông Ayeyarwady, và đó là lần thống nhất đầu tiên trong lịch sử, và đặt các vùng ngoại vi, tức là các nhà nước của người Shanngười Arakan, dưới bá chủ của triều đình Pagan. Ông đã ngăn chặn thành công đế quốc Khmer tiến về bờ biển Tenasserim và vào lưu vực thượng lưu sông Menam, giúp cho Myanma trở thành một trong hai đế quốc ở Đông Nam Á lục địa.

Anawrahta đã thực hiện một loạt cải cách xã hội, tín ngưỡngkinh tế quan trọng để lại những tác động lâu dài tới lịch sử Myanma. Những cải cách xã hội và tín ngưỡng của ông sau đó đã phát triển thành văn hóa Myanma hiện đại. Ông đã cho xây dựng một loạt đập nước, biến vùng đất khô cằn quanh Pagan thành một trung tâm sản xuất lúa gạo ở Thượng Miến, giúp cho Thượng Miến có một cơ sở kinh tế bền vững để dựa vào đó thống trị lưu vực sông Ayeyarwady và các vùng ngoại vi của nó trong các thế kỷ tiếp theo. Ông đã để lại một hệ thống hành chính mạnh mà tất cả các vua nhà Pagan tiếp sau đều áp dụng cho đến tận khi vương triều này bị diệt vong vào năm 1287. Quyền bá chủ bền vững của vương triều Pagan ở lưu vực sông Ayeyarwady đã tạo lập cơ sở cho văn hóa và ngôn ngữ Miến phát triển, cho dân tộc Miến mở rộng phạm vi cư trú ở Thượng Miến.

Di sản của Anawrahta đã vượt ra ngoài cả biên giới Myanma hiện đại. Việc ông hậu thuẫn Phật giáo Thượng tọa bộ và việc ông ngăn chặn thành công sự mở rộng về phía tây của đế quốc Khmer, một nhà nước theo đạo Hindu, đã giúp cho tông Phật giáo này có được chỗ dựa an toàn. Ông đã giúp Phật giáo Thượng tọa bộ phục hưng ở Ceylon, quê hương của nó. Sự thành công của triều Pagan đã giúp cho Phật giáo Thượng tọa bộ sau này phát triển ở Lan Na (miền Bắc Thái Lan ngày nay), AyutthayaSukhothai (miền Trung Thái Lan ngày nay), Lan Xang (Lào ngày nay), và Đế quốc Khmer ở thế kỷ 1314.

Trước khi lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Anawrahta được các học giả lịch sử hiện đại coi là vị vua lịch sử đầu tiên của Myanma theo nghĩa là các sự kiện trong thời ông trị vì có thể được xác định qua các bia ký, song giai đoạn cuộc đời trước khi ông lên ngôi, giống như lịch sử nhà Pagan trước ông (ngoại trừ Vua Nyaung-u Sawrahan), đều đượm màu huyền thoại.[1]

Anawrahta sinh năm 1014 (hay năm 376 theo lịch cổ truyền của người Miến) và khi còn nhỏ tên là Min Saw (မင်းစော, IPA: [mɪ́ɴ sɔ́]). Theo biên niên sử bằng tiếng Miến, cha ông là Vua Kunhsaw Kyaunghpyu và mẹ là Myauk Pyinthe (nghĩa là Hoàng hậu Bắc Cung). Cha ông chiếm ngôi của vua Pagan của Nyaung-u Sawrahan, rồi cưới ba người hoàng hậu của vị vua cũ, hai trong số đó đang mang thai sau này sinh ra KyisoSokkate.[2] Kunhsaw nuôi dạy Sokkate và Kyiso như con của chính mình.[3]

Lớn lên, Sokkate và Kyiso đã ép Kunhsaw phải từ bỏ ngai vàng đi làm hòa thượng. Kunhsaw sống trong một tự viện cùng với vợ và con trai riêng - Anawrahta. Kyiso làm vua, rồi đến lượt Sokkate.

Anawrahta lớn lên, kết hôn và sinh được một người con trai tên là Sawlu vào năm 1039.

Lên ngôi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1044, Anawrahta dấy binh ở gần Núi Popa, và thách Sokkate đấu tay đôi với minh. (Theo truyền thuyết, lý do ông dấy binh là vì Sokkate định ép cưới mẹ của Anawrahta, tức Myauk Pyinthe.) Trong trận đấu tay đôi đó, ông đã chém chết Sokkate ở Myinkaba gần Pagan, và giành ngôi vua. Anwarahta trả ngôi vua cho cha mình. Nhưng vị vua già, đã tu hành suốt một thời gian dài, không còn muốn ngôi báu nữa. Tháng 12 năm 1044[4], Min Saw lên ngôi, hiệu là Anawrahta, một kiểu Miến hóa cái tên Phạn ngữ Aniruddha (अनिरुद्ध). Đế hiệu đầy đủ của ông là Maha Yaza Thiri Aniruddha Dewa (မဟာ ရာဇာ သီရိ အနုရုဒ္ဓ ဒေဝ; tiếng Phạn: Mahā Rājā Śrī Aniruddha Devá). Lịch sử Myanma bắt đầu xác thực hơn kể từ đây.[5][6]

Thống nhất miền trung Myanma[sửa | sửa mã nguồn]

Khi mới lên ngôi, đất nước của Anawrahta chỉ là một tiểu quốc với chiều bắc-nam vào khoảng 200 dặm và chiều đông-tây khoảng 80 dặm, bao gồm các huyện Mandalay, Meiktila, Myingyan, Kyaukse, Yamethin, Magwe, SagaingKatha ngày nay ở phía đông sông Aerrawaddy, và Minbu cùng Pakkoku ven sông. Phía bắc đất nước là vương quốc Nam Chiếu, và phía đông là vùng đồi núi Shan vẫn còn thưa người cư trú, phía nam và tây là lãnh địa của người Pyu, và xa hơn nữa về phía nam là người Môn.[7]

Cải cách kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Việc đầu tiên Anawrahta triển khai khi lên làm vua là tổ chức lại đất nước. Ông phân cấp các thị trấn và làng xã theo số thuế thu được ở đó. Ông đã rất nỗ lực biến vùng đất khô cằn ở miền trung Myanma thành vựa lúa. Ông đã xây dựng hệ thống thủy lợi ở Thượng Miến mà đến nay người ta vẫn còn sử dụng. Ông đã sửa lại hồ Meiktila, và xây được bốn con đặp và kênh dẫn nước (Kinda, Nga Laingzin, Pyaungbya, Kume) trên sông Panlaung, và ba con đập (Nwadet, Kunhse, Nga Pyaung) trên sông Zawgyi. (Ông còn cố gắng kiểm soát sông Myitnge nhưng không thành công, suốt 3 năm nỗ lực chỉnh trị không nổi với nhiều tổn thất nhân mạng do dịch bệnh.) Ông động viên người di cư đến lập làng ở các vùng đất mới khai hoang, và cử người của triều đình đến đó lãnh đạo, làm thủy lợi. Những vùng này, gọi là Ledwin (nghĩa là "xứ lúa") trở thành vựa lúa và là động lực kinh tế của đất nước. Lịch sử cho thấy ai kiểm soát được Kyaukse sẽ thành làm chủ Thượng Miến.[7]

Xây dựng quân đội[sửa | sửa mã nguồn]

Anawrahta đã tổ chức lại quân đội nhà Pagan. Những chỉ huy tâm phúc của ông, được gọi là "bốn hiệp sĩ" trong lịch sử Myanma gồm:

Phục vụ trong quân đội của ông còn có Byatta (ဗျတ္တ), một người Hồi giáo (có lẽ là một người Ả Rập) bị đắm thuyền ở Thaton, và các con của Byatta là Shwe Hpyin GyiShwe Hpyin Nge, (những người mà tín ngưỡng dân gian Myanma sau này gọi là anh em Shwe Hpyin ရွှေဖျဥ်းညီနောင်).

Thành lập đế quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Pagan Empire, estimated by GE Harvey

Vào khoảng giữa thập niên 1050, những cải cách của Anawrahta đã đưa Myanma trở thành một cường quốc khu vực, và ông có tham vọng bành trướng ra bên ngoài. Trong khoảng 10 năm tiếp theo, ông đã lập nên đế quốc Myanma đầu tiên, với thung lũng sông Ayeyarwady làm trung tâm, và bao quanh là các nước phải triều cống.[8]

Phạm vi của đế quốc mà Anawrahta đã lập nên rộng đến đâu, hiện còn chưa có sự nhất trí toàn thể. Các ghi chép của người Miến và người Thái cho thấy đế quốc này bao trùm Myanma hiện đại và miền bắc Thái Lan. Ghi chép của người Thái thậm chí còn cho thấy rằng Anawrahta đã chinh phạt toàn bộ thung lũng sông Menam, và đến cả các vua Khmer cũng phải triều cống ông. Thậm chí có ý kiến cho rằng ông đã cướp phá kinh đô Angkor. Và học giả người Miến Htin Aung thì lại còn cho rằng Anawrahta đã chinh phạt tới tận Java và khiến các nhà nước ở đó phải triều cống.[8] Tuy nhiên, các sử gia hiện đại, như Harvey, Hall, v.v..., cho rằng đế quốc của Anawrahta nhỏ hơn nhiều so với những nhận định nói trên, chỉ bao gồm thung lũng sông Ayeyarwady và vùng ngoại vi lân cận. Những tấm bia gốm đánh dấu chiến công của ông (trong đó có ghi tên ông bằng chữ Phạn) được tìm tháy ở bờ biển Tenasserim ở phía nam, Katha (Sagang) ở phía bắc, Thazi (Meiktila, Mandalay) ở phía đông và Minbu (Magwe) ở phía tây.[9]

Chinh phạt cao nguyên Shan[sửa | sửa mã nguồn]

Những nỗ lực bành trướng đầu tiên của ông là ở cao nguyên Shan phía đông và bắc nơi vẫn còn thưa thớt dân cư. Thời kỳ đầu đến giữa thập niên 1050, Anawrahta tiến vào vùng cao nguyên Shan phía gần nhất, đó là ở phía đông, và khiến được các xứ ở đó phải triều cống mình. Ông cho xây chùa Bawrithat ở Nyaungshwe. Cuối những năm 1050 đầu những năm 1060, khi chinh phạt Nam Chiếu trở về, ông đã được các thủ lĩnh các bộ tộc Shan dọc đường đi đến triều cống. Tuy nhiên, sự thần phục này chỉ là về mặt hình thức và ông đã phải cho xây 43 đồn lũy ở rìa phía đông vùng cao nguyên này vào năm 1061, trong số đó có 33 điểm đến nay vẫn tồn tại như các làng bản.[10][11]

Bhamo Katha Kyaukse Meiktila Mogok Mandalay Taungoo Yamethin
  • Kaungton
  • Kaungsin
  • Shwegu
  • Yinkhe
  • Moda
  • Katha
  • Htigyaing
  • Mekkaya
  • Ta On
  • Myinsaing
  • Myittha
  • Hlaingdet
  • Thagaya
  • Nyaungyan
  • Myadaung
  • Tagaung
  • Hinthamaw
  • Kyanhnyat
  • Sampanago
  • Singu
  • Konthaya
  • Magwe Taya
  • Yenantha
  • Sonmyo
  • Madaya
  • Thakegyin
  • Wayindok
  • Taungbyon
  • Myodin
  • Myohla
  • Kelin
  • Swa
  • Shwemyo

Chinh phạt Hạ Miến[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi chinh phục cao nguyên Shan, Anawrahta quay sang các xứ của người Môn ở phía nam. Đầu tiên, ông được thủ lĩnh Pegu triều cống. Nhưng vương quốc Thaton không chịu khuất phục. Anawrahta liền phái bốn thuộc hạ tâm phúc của mình dẫn quân chinh phạt vương quốc này vào đầu năm 1057. Sau 3 tháng vây hãm kinh đô Thaton, đến tháng 5 năm 1057, quân của Anawrahta đã chiếm được thành phố.[12] Theo dã sử của người Miến và người Môn, lý dp chính khiến Anawrahta quyết định chiến tranh là vì Vua Manuha của Thaton từ chối cho người Miến kinh Phật. (Anawrahta đã cải đạo từ Phật giáo A Lợi Tăng tông sang Thượng tọa bộ nhờ Shin Arahan, một nhà sư người Thaton.) Còn trong thực tế, mục tiêu viễn chinh Thaton là để ngăn chặn đế quốc Khmer tiến vào lưu vực sông Chao Phraya và tiến tới bờ biển Tenasserim.[13][14]

Cuộc chinh phạt Thaton được xem là một bước ngoặt trong lịch sử Myanma. Anawrahta đã đem về Pagan từ Thaton hơn 3 vạn người, trong số đó có nhiều nhợ thủ công và nghệ sĩ. Những tù nhân này tạo thành một cộng đồng giúp người Miến xây dựng hàng nghìn tự viện ở Pagan; những phế tích của các tự viện đó còn đến nay cho thấy chúng không kém gì Angkor Wat.[15]

Những nghiên cứu gần đây hơn của sử gia Michael Aung-Thwin[16] cho rằng sự đóng góp của Thaton vào chuyển biến văn hóa ở Thượng Miến chỉ là một truyền thuyết của thời kỳ hậu Pagan mà không có bằng chứng đương đại nào, cho rằng Hạ Miến trước khi bị Pagan chinh phạt không có một thể chế độc lập lớn nào, và cho rằng ảnh hưởng của văn hóa Môn đối với Thượng Miện bị cường điệu. Có lẽ vào thời kỳ đó, việc bồi lấp tạo nên châu thổ chưa hoàn thiện và biển vẫn còn ăn sâu vào trong đất liền, vì vậy dân số thời đó ở Hạ Miến khó có thể đủ đông để tạo ra một nền văn hóa lớn.[13]

Dù thế nào, trong thế kỷ 11, người Miến đã chinh phục được Hạ Miến và điều này đã thúc đẩy giao lưu văn hóa, nếu không phải với người Môn bản xứ, thì cũng là với Ấn ĐộCeylon (Sri Lanka).[13][14]

Chinh phạt Arakan[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếp theo, Anawrahta viễn chinh tới bắc Arakan (Rakhine). Từ Ngape gần Minbu, quân đội của ông đi đường đèo vượt qua dãy núi Arakan tới An ở Kyaukphyu, rồi vây hãm Pyinsa, trung tâm của Arakan khi đó. Theo ghi chép cổ, ông đã cố mang pho tượng khổng lồ Mahamuni Buddha về nhưng không thành công. Ông đã cho chiếm vàng bạc của nguôi chùa mang về.[7] Cũng giống như trường hợp các xứ Shan, bá quyền của Anawrahta ở bắc Arakan (bị dãy núi Arakan ngăn cách) chỉ là hình thức. Theo một số sử gia phương Tây (Harvey, Lieberman), "cuộc viễn chính" có lẽ là để ngăn chặn người Arakan tấn công vào Myanma thì đúng hơn.[7][13] Trong khi triều đình Pagan không bao giờ lập được một hệ thống hành chính để cai trị hiệu quả Arakan, nhưng họ vẫn buộc được Arakan phải chịu làm chư hầu cho Myanma, kể cả các triều đại sau này của người Miến, thậm chí đôi khi họ còn đưa được người họ lựa chọn lên ngôi vua Arakan. Ngoài ra, ngôn ngữ Miếnchữ viết Miến đã được truyền bá và sử dụng rộng rãi ở Arakan trong các thế kỷ tiếp theo.[17]

Khuất phục Pateikkaya[sửa | sửa mã nguồn]

Anawrahta còn được một vương quốc theo đạo Phật là Pateikkaya (ပဋိက္ခယား, IPA: [bədeiʔ kʰəjá]) triều cống. Vị trí của nhà nước nhỏ bé này đến nay vẫn còn nhiều tranh cãi. Sử sách Myanma chép rằng nướ này ở tây bắc Arakan và vua là người Ấn Độ.[18] Nhưng sử gia người Anh GE Harvey cho rằng chắc xứ đó ở phía đông cao nguyên Chin.[19]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Maung Htin Aung (1967). A History of Burma. New York and London: Cambridge University Press. (tiếng Anh)
  • GE Harvey (1925). History of Burma. London: Frank Cass & Co. Ltd. (tiếng Anh)
  • Victor B Lieberman (2003). Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800–1830, volume 1, Integration on the Mainland. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-80496-7. (tiếng Anh)
  • Nicholas Tarling (1999). The Cambridge History of Southeast Asia: Early Times to c. 1500. ISBN 0521663695, 9780521663694. (tiếng Anh)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kyaw Thet (1962). History of Burma (bằng tiếng Myanma). Yangon: University of Rangoon Press. tr. 40. 
  2. ^ George W. Bird (1897). Wanderings in Burma (bằng tiếng Anh). F.J. Bright & Son. tr. 336. 
  3. ^ Pe Maung Tin and G.H. Luce. The Glass Palace Chronicle of the Kings of Burma (bằng tiếng Anh) (ấn bản 1960). Rangoon University Press. tr. 70. 
  4. ^ “King Anawrahta”. Hmannan Yazawin (bằng tiếng Myanma) 1 (ấn bản 2003). Yangon: Ministry of Information, Myanmar. 1829. tr. 230. 
  5. ^ GE Harvey, tr. 19.
  6. ^ Htin Aung, tr. 31.
  7. ^ a ă â b Harvey, tr. 24–25.
  8. ^ a ă Htin Aung, tr. 34.
  9. ^ Kyaw Thet, tr. 41–42.
  10. ^ Harvey, tr. 26–31
  11. ^ Hmannan, tr. 269–270
  12. ^ Kyaw Thet, p. 45
  13. ^ a ă â b Victor B Lieberman (2003). Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800–1830, volume 1, Integration on the Mainland. Cambridge University Press. tr. 91. ISBN 978-0-521-80496-7. 
  14. ^ a ă Nicholas Tarling (1999). The Cambridge History of Southeast Asia: Early Times to c. 1500. tr. 165. ISBN 0521663695, 9780521663694 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  15. ^ Ashley South (2003). Mon nationalism and civil war in Burma: the golden sheldrake. Routledge. tr. 419. ISBN 0700716092, 9780700716098 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  16. ^ Michael Aung-Thwin (2005). The Mists of Rāmañña: the Legend that was Lower Burma. University of Hawaii Press. tr. 433. ISBN 0824828860, 9780824828868 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  17. ^ Thant Myint-U (2006). The River of Lost Footsteps—Histories of Burma. Farrar, Straus and Giroux. tr. 72–73. ISBN 978-0-374-16342-6, 0-374-16342-1 Kiểm tra giá trị |isbn= (trợ giúp). 
  18. ^ Htin Aung, p. 35
  19. ^ Harvey, p. 326