Andrew Marvell (31 tháng 3 năm 1621 – 16 tháng 8 năm 1678) – là nhà thơ Anh, một trong những đại diện cuối cùng của phái siêu hình và là một bậc thầy thơ ca của chủ nghĩa cổ điển Anh.
Tiểu sử [sửa]
Marvell tốt nghiệp Đại học Cambridge năm 1639 và ngay sau đó ra sống ở nước ngoài. Những năm 1650 – 1652 ông viết trường ca Upon Appleton House, và bài thơ The Garden rất nổi tiếng. Những năm 1653 – 1657 được Oliver Cromwell bảo lãnh để làm gia sư cho William Dutton và sau đó làm cộng sự cho John Milton ở Bộ ngoại giao. Năm 1659 ông được bầu vào Quốc hội đại diện cho quyền lợi của thành phố Hull (nay là Kingston upon Hull) cho đến cuối đời.
Suốt một quãng thời gian dài hàng thế kỷ (XVIII – XIX) Marvell là nhà thơ bị che khuất bởi bóng của những cây đa cây đề như John Milton và John Dryden. Trong những cuốn sách viết về lịch sử văn học, tên tuổi Andrew Marvell chỉ thỉnh thoảng được nhắc đến như là tác giả của những bài thơ trào phúng hoặc những bài thơ tôn giáo. Chỉ đến đầu thế kỷ XX nhà thơ T. S. Eliot mới tìm thấy thần tượng của mình bị lãng quên khi ông cho rằng bài thơ To His Coy Mistress là bài thơ hay nhất của thi ca Anh mọi thời đại. Nhà văn Vladimir Nabokov trong tiểu thuyết Lửa nhạt (Pale Fire, 1962) trích dẫn rất nhiều câu từ tác phẩm Nymph Complaining for the Death of her Fawn của Andrew Marvell.
Tác phẩm [sửa]
- Complete works, v. 1—4, L., 1872—1875;
- Poems and letters, v. 1—2, Oxf., 1952;
- The poems, L., 1963.
Thư mục [sửa]
- Eliot Т. S., Andrew Marvell, trong cuốn: Selected essays, 3 ed., L., 1958
- Marvell. Modern judgements, ed. by М. Wilding, L., 1969
- Andrew Marvell. A critical anthology, Harmondsworth, 1969
Một vài bài thơ [sửa]
Tượng Andrew Marvell ở Trinity Square, Kingston upon Hull, Anh
- Định nghĩa tình yêu
-
- Khởi thủy tình tôi thật diệu kỳ
- Mục tiêu cao cả, lạ lùng ghê.
- Sao đã phôi thai niềm tuyệt vọng
- Và điều không thể vội sinh ra.
-
- Tuyệt vọng trong hào phóng của mình
- Giang cao đôi cánh vút bay lên
- Để niềm hy vọng chùng đôi cánh
- Vẫy vùng càng lắm chỉ hoài công.
-
- Nhưng dù sao thì ta vẫn tin
- Rằng ta đạt đến mục đích chung
- Nhưng rồi số phận chìa dao sắt
- Ngăn cản đường ta đến mỗi lần.
-
- Số phận dè chừng vốn đã quen
- Say mê cuồng đắm hai tâm hồn
- Cùng nhau hòa hợp – và phút chốc
- Than ôi, bạo chúa bị truất quyền.
-
- Thế nên điều lệ vững vàng kia
- Muôn thuở muôn đời bị phân chia
- Để những con tim mù bóng tối
- Cách ngăn hai kẻ muốn ôm ghì.
-
- Lẽ nào đổ xuống cả trời xanh
- Đất trong cơn rung chuyển cuối cùng.
- Tất cả rồi đây hàn gắn lại
- Như hai đường nét vẽ trên hình.
-
- Tình yêu luôn có những con đường
- Thường xuyên gặp gỡ những đường cong
- Còn bao đường thẳng thì mãi mãi
- Muôn đời muôn kiếp đứng song song.
-
- Vì thế mà khi nảy sinh tình
- Số kiếp luôn tìm cách can ngăn
- Luôn có những vì sao đối kháng
- Và mong hòa hợp những tâm hồn.
- Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
|
- The Definition Of Love
-
- My love is of a birth as rare
- As 'tis for object strange and high:
- It was begotten by Despair
- Upon Impossibility.
-
- Magnanimous Despair alone
- Could show me so divine a thing,
- Where feeble Hope could ne'er have flown
- But vainly flapped its tinsel wing.
-
- And yet I quickly might arrive
- Where my extended soul is fixed
- But Fate does iron wedges drive,
- And always crowds itself betwixt.
-
- For Fate with jealous eye does see
- Two perfect loves, nor lets them close:
- Their union would her ruin be,
- And her tyrranic power depose.
-
- And therefore her decrees of steel
- Us as the distant Poles have placed
- (Though Love's whole world on us doth wheel)
- Not by themselves to be embraced,
-
- Unless the giddy heaven fall,
- And earth some new convulsion tear;
- And, us to join, the world should all
- Be cramped into a planisphere.
-
- As lines so loves oblique may well
- Themselves in every angle greet:
- But ours so truly parallel,
- Though infinite, can never meet.
-
- Therefore the love which us doth bind,
- But Fate so enviously debars,
- Is the conjunction of the mind,
- And opposition of the stars.
|
Liên kết ngoài [sửa]