Andrew Wiles

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Andrew John Wiles
Andrew John Wiles
Sinh 11 tháng 4, 1953 (61 tuổi)
Cambridge, Anh Flag of England (bordered).svg
Nơi cư trú Anh, Hoa Kỳ
Quốc tịch Anh
Ngành Toán học
Nơi công tác Đại học Princeton
Alma mater Đại học Merton, Oxford,
Đại học Clare, Cambridge
Người hướng dẫn luận án tiến sĩ John Coates
Các sinh viên nổi tiếng Manjul Bhargava
Brian Conrad
Karl Rubin
Chris Skinner
Richard Taylor
Nổi tiếng vì Chứng minh Định lý lớn Fermat
Giải thưởng Giải thưởng Fermat (1995)
Giải thưởng Wolf (1995/6)
Huy chương Hoàng gia (1996)
Đĩa bạc IMU (1998)
Giải thưởng Shaw (2005)
Xem thêm

Andrew John Wiles là nhà toán học người Anh, được biết đến như người đầu tiên chứng minh được định lý lớn Fermat.

Wiles được giới thiệu về Định lý lớn Fermat ngay lúc ông mới 10 tuổi. Những năm sau đó ông thử tìm cách chứng minh định lý theo các phương pháp truyền thống trong sách giáo khoa. Tuy nhiên, khi bắt đầu giai đoạn nghiên cứu sinh ông chuyển sang nghiên cứu các hàm elip, dưới sự hướng dẫn của giáo sư John Coates.

Trong thời gian làm nghiên cứu sinh tại trường Clare tại Cambridge, Wiles còn kiêm nhiệm trợ lý giáo sư tại Đại học Harvard[1]. Đến năm 1980 khi nhận bằng tiến sĩ, Wiles sang làm việc một thời gian ở Bonn trước khi đến Hoa Kỳ. Năm 1981, ông đã là giáo sư tại Đại học Princeton.

Điều then chốt trong việc chứng minh định lí Fermat lại trực tiếp phụ thuộc vào mệnh đề Shimura-Taniyama (mối liên hệ này được G. Frey đề xuất và K. Ribet chứng minh). Từ đó, Wiles tập trung vào việc chứng minh mệnh đề Shimura-Taniyama. Công việc này đã chiếm một khoảng thời gian là 7 năm.

Tháng 6 năm 1993, Wiles cho rằng công việc chứng minh sắp được hoàn tất, nhưng sau đó phát hiện ra một vấn đề trục trặc không nhỏ. Công việc còn dở dang đến tận 19 tháng 9, 1994, khi ông đột nhiên có ý tưởng đúng. Năm 1995, bài báo Modular elliptic curves and Fermat's Last Theorem của Wiles xuất hiện trên tạp chí Annals of Mathematics.

Các giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Andrew Wiles đã nhận được nhiều giải thưởng khoa học và toán học từ năm 1988:

Vinh dự[sửa | sửa mã nguồn]

Wiles được phong tước Hiệp sĩ (KBE) của Vương quốc Anh. Vì vậy trong văn bản, tên của ông còn viết là Sir Andrew Wiles.

Một tiểu hành tinh vành đai chính được đặt tên theo ông: 9999 Wiles (được phát hiện bởi C. J. van Houten, I. van Houten-Groeneveld và T. Gehrels 29 tháng 9, 1973)[20]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Andrew Wiles tại Wikimedia Commons

  1. ^ Andrew John Wiles - Bài viết bởi các tác giả J. J. O'Connor và E. F. Robertson, Đại học St. Andrews, Scotland. [1]
  2. ^ a ă "WILES, Sir Andrew (John)", Who's Who, A & C Black, January 2007
  3. ^ List of LMS prize winners, Whitehead Prize cập nhật 17/11/2010
  4. ^ Andrew Wiles - Rolf Schock prize - Mathematics "He is awarded the prize recognition of the decisive results that he has obtained in number theory and the great technical skill he has shown in solving a number of fundamental conjectures"
  5. ^ Fermat Prize - Winners of the preceding editions
  6. ^ Wolf Prize 1995/6
  7. ^ “NAS Award in Mathematics”. National Academy of Sciences. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2011. 
  8. ^ Wiles Receives NAS Award in Mathematics July 1996
  9. ^ Royal recent winners
  10. ^ Wiles nhận Ostrowski Prize tháng 6, 1996
  11. ^ Correction 1998
  12. ^ “1997 Cole Prize, Notices of the AMS” (PDF). Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2008. 
  13. ^ Paul Wolfskehl and the Wolfskehl Prize October 1997
  14. ^ Andrew J. Wiles Awarded the "IMU Silver Plaque"
  15. ^ Andrew Wiles receives special tribute August 28, 1998
  16. ^ Andrew Wiles Receives Faisal Prize
  17. ^ Andrew Wiles nhận giải Clay đầu tiên 10/5/1999
  18. ^ Wiles Receives 2005 Shaw Prize September 2005
  19. ^ Premio Pitagora
  20. ^ 9999 Wiles (4196 T-2) cập nhật 11/6/2010