Anhydrit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Anhydrit
Anhydrite, Chihuahua, Mexico
Thông tin chung
Thể loại Khoáng vật sulfat
Công thức hóa học Canxi sunfat:CaSO4
Phân loại Strunz 07.AD.30
Phân loại Dana 28.3.2.1
Tính đối xứng tinh thể Trực thoi 2/m 2/m 2/m
Màu Không màu đến xanh nhạt hoặc tím nếu trong suốt; đỏ, nâu mờ hoặc xám nếu chứa tạp chất
Dạng thường tinh thể Hiếm gặp tinh thể ở dạng tấm và lăng trụ. Thường tồn tại ở dạng mạch sợi song song, tan vỡ thành các mảnh cát khai. Cũng có thể tồn tại ở dạng các khối hạt, kết hạch, đá khối.
Hệ tinh thể Trực thoi - Tháp đôi
Song tinh Đơn giản hoặc lặp lại ở mặt {011}, phổ biến; liên kết đôi ít gặp ở mặt {120}
Cát khai [010] hoàn hảo, [100] hoàn hảo, [001] tốt;
Vết vỡ Dạng vỏ sò
Độ bền Giòn
Độ cứng Mohs 3.5
Ánh Ánh ngọc trai ở mặt {010}, ánh thủy tinh đến ánh mờ ở mặt {001}; ánh thủy tinh ở mặt {100}
Màu vết vạch Trắng
Tính trong mờ Mờ đến trong suốt
Tỷ trọng riêng 2.97
Thuộc tính quang Hai trục (+)
Chiết suất nα = 1.567 - 1.574 nβ = 1.574 - 1.579 nγ = 1.609 - 1.618
Khúc xạ kép δ = 0.042 - 0.044
Đa sắc Đa dạng dưới tia cực tím; X = không màu cho đến màu hồng hoặc vàng nhạt; Y = tím nhạt hoặc hồng; Z = tím.
Góc 2V 56 - 84°
Tính nóng chảy 2
Các đặc điểm khác Một số mẫu vật phát huỳnh quang, một số khác phát huỳnh quang sau khi đun nóng
Tham chiếu [1][2][3][4]
Cấu trúc tinh thể của anhydrit

Anhydrit là một khoáng vật sunfat canxi khan, CaSO4. Nó kết tinh theo trực thoi, với ba mặt cát khai hoàn hảo song song với ba mặt phẳng hình học. Nó không đồng hình với barium (baryt) trực thoi và stronti sunfat, điều mà có thể được dự đoán từ công thức hóa học. Khối tinh thể riêng biệt rất hiếm, thường thì khoáng vật này chỉ tồn tại ở dạng các khối cắt. Độ cứng là 3,5 và trọng lượng riêng là 2,9. Màu sắc trắng, đôi khi hơi xám, hơi xanh hoặc tím. Ở mặt cát khai, ánh ngọc trai, các mặt khác có ánh thủy tinh. Khi tiếp xúc với nước, anhydrit chuyển thành dạng thạch cao, (CaSO4·2H2O), bởi quá trình hấp thụ nước. Anhydrit thường có mặt với Can xít, Halit, và Lưu huỳnh cũng như là galen, chalcopyrit, molybdenitpyrit trong các mỏ khoáng.

Thể tồn tại[sửa | sửa mã nguồn]

Anhydrit thường được tìm thấy cùng với thạch cao trong các mỏ đã bốc hơi nước. Nó được phát hiện lần đầu năm 1794 ở một mỏ muối gần Hall ở Tirol. Ở độ sâu này, bề mặt anhydrit đã bị chuyển thành thạch cao bởi sự hấp thụ từ nước ngầm.

Trong dung dịch canxi sunfat, các tinh thể thạch cao tồn tại, nhưng khi dung dịch chứa dư natri hoặc kali clorit, anhydrit sẽ được tạo thành khi trên 40 °C. Đây là một trong những cách để thu được khoáng vật nhân tạo, và tương tự như sự hình thành trong tự nhiên, khi mà khoáng vật tồn tại ở các bể muối.

Kết hạch ở bãi thoái triều[sửa | sửa mã nguồn]

Anhydrit tồn tại trong môi trường bãi thoái triều ở vùng Vịnh qua quá trình thay thế kết hạch tạo đá. Anhydrit kết hạch xuất tồn tại như phần thay thế cho thạch cao trong môi trường đá trầm tích.[5]

Đá phủ vòm muối[sửa | sửa mã nguồn]

Lượng lớn anhydrit tồn tại khi các vòm muối tạo thành đá khối. Anhydrit tồn tại 1-3% trong các vòm muối và hình thành các lớp phủ ở trên đỉnh muối khi halit bị nước lỗ hổng rửa trôi. Đá phủ điển hình là muối, trên cùng phủ bởi một lớp anhydrit, đắp trên nữa là thạch cao, tiếp theo là một lớp canxit.[6] Sự tiếp xúc với dầu có thể làm giảm SO4 tạo thành canxit, nước và hyđro sulfua(H2S).[7]

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Anhydrit được đặt bởi A. G. Werner vào năm 1804, bởi vì sự thiếu nước trong tinh thể, tương phản với sự có mặt của nước trong thạch cao.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Klein, Cornelis and Cornelius S. Hurlbut, 1985, Manual of Mineralogy, 20th ed., John Wiley and Sons, New York, ISBN 0-471-80580-7
  2. ^ Webmineral
  3. ^ Mindat.org
  4. ^ Handbook of Mineralogy
  5. ^ Michael A. Church, Encyclopedia of Sediments & Sedimentary Rocks, Springer, 2003, pp. 17-18 ISBN 978-1-4020-0872-6
  6. ^ Walker, C. W. (Dec năm 1976). “Origin of Gulf Coast salt-dome cap rock”. AAPG Bulletin 60 (12): 2162–2166. 
  7. ^ Saunders, James A.; Thomas, Robert C. (September năm 1996). “Origin of ‘exotic’ minerals in Mississippi salt dome cap rocks: results of reaction-path modeling”. Applied Geochemistry 11 (5): 667–676. doi:10.1016/S0883-2927(96)00032-7.