Antiochos IV Epiphanes

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Antiochos IV Epiphanes
Vua nhà Seleukos
AntiochusIVEpiphanes.jpg
Tiền của Antiochus IV. Mặt kia có hình thần Apollo ngồi trên omphalos. Chữ Hy Lạp ghi ΑΝΤΙΟΧΟΥ ΘΕΟΥ ΕΠΙΦΑΝΟΥ ΝΙΚΗΦΡΟΥ, nghĩa là “của Antiochus, hiện thân của Thượng Đế, người mang lại chiến thắng”.
Tại vị 175 TCN – 164 TCN
Tiền nhiệm Seleukos IV Philopator Vua hoặc hoàng đế
Kế nhiệm Antiochos V Eupator Vua hoặc hoàng đế
Thông tin chung
Phối ngẫu Laodice IV
Hậu duệ Antiochos V Eupator
Laodice VI
Alexandros Balas (giả mạo) Vua hoặc hoàng đế
Antiochis
Laodice
Tên đầy đủ Mithridates, sau đổi thành Antiochos
Hoàng tộc Nhà Seleukos
Thân phụ Antiochos III Đại đế Vua hoặc hoàng đế
Thân mẫu Laodice III
Sinh 215 TCN
Mất 164 TCN

Antiochos IV Epiphanes (Tiếng Hy Lạp: Ἀντίοχος Ἐπιφανὴς, phát âm [æntɑi̯əkəs ɛpɪfəni ː z];[1] sinh khoảng 215 TCN; mất 164 TCN) trị vì vương quốc Seleukos từ năm 175 TCN cho đến khi mất năm 164 TCN. Ông là con trai của vua Antiochos III Đại đế và là em của Seleukos IV Philopator. Tên ban đầu của ông là Mithridates; ông đổi tên thành Antiochos sau khi lên ngôi.

Các sự kiện chính trong triều đại của ông là cuộc chinh phục Ai Cập, dẫn đến sự khai sinh của cụm từ “dòng trong cát” (xem bên dưới), và cuộc nổi dậy Maccabe của người Do Thái.

Ông chọn tên hiệu của mình theo cách khác không giống một vị vua Hy Lạp hóa nào đã làm. Chẳng hạn như Theos Epiphanes (Tiếng Hy Lạp: Θεὸς Ἐπιφανής) có nghĩa là “Hiện thân của Thượng đế”), và sau khi đánh bại Ai Cập, ông đặt tên hiệu Nikephoros (Tiếng Hy Lạp: Νικηφόρος) có nghĩa là “Người mang lại chiến thắng”)[2]

Khôi phục lại sức mạnh[sửa | sửa mã nguồn]

Là con trai và là người thừa kế đầy tiềm năng của vua Antiochos III, Antiochos đã trở thành một con tin chính trị của Cộng hòa La Mã sau khi hiệp ước hòa bình Apamea năm 188 TCN. Khi vua anh Seleukos IV lên kế ngôi năm 187 TCN, ông được trao đổi bởi cháu trai của mình là Demetrios I Soter, con trai và là người thừa kế của Seleukos. Sau khi vua Seleukos IV bị ám sát bởi Heliodorus nhằm mục đích cướp ngôi vào năm 175 TCN. Antiochos đã trốn thoát khỏi sự truy sát của ông ta. Trong khi người thừa kế chính thức của nhà Seleukos, Demetrios I Soter, đang làm con tin ở La Mã, Antiochos với sự giúp đỡ của vua Eumenes II của Pergamon đã tự mình giành lấy ngai vàng. Ông tuyên bố cùng nhiếp chính với con trai khác của Seleukos, khi ấy còn là một đứa trẻ sơ sinh cũng có tên là Antiochos, người mà sau vài năm cũng bị ông ta giết hại.[3]

Chiến tranh chống Ai Cập[sửa | sửa mã nguồn]

Khi người giám hộ của vua Ptolemaios VI của Ai Cập yêu cầu sự trở lại của Coele-Syria năm 170 TCN, Antiochos đã đưa ra ưu tiên chống lại Ai Cập, nhưng không chiếm Alexandria và bắt sống vua Ptolemaios. Để tránh đánh động cho La Mã, Antiochos đã cho phép Ptolemaios cai trị như một vị vua bù nhìn. Sau khi Antiochos rút đi, Alexandria đã chọn một ông vua mới, một trong những anh em của Ptolemaios, cũng được đặt tên Ptolemaios (Euergetes VIII). Thay vì tiến hành nội chiến với em trai, anh em nhà Ptolemaios đã đồng ý cai trị cùng nhau

Vào năm 168 TCN, Antiochos lần thứ hai tiến hành cuộc tấn công vào Ai Cập và cũng gửi hạm đội tới đánh chiếm đảo Síp. Trước khi đến Alexandria, mục đích của ông đã bị một nhà ngoại giao già người La Mã là Gaius Popillius Laenas chặn lại, Laenas đã nhận được lệnh từ viện nguyên lão La Mã là chỉ cho Antiochos biết là phải rút quân khỏi Ai Cập hoặc là xem xét mình trong tình trạng chiến tranh với Cộng hòa La Mã. Antiochos cho biết ông sẽ thảo luận với các cố vấn của mình. Ngay lúc đó viên phái viên người La Mã vẽ một đường trên cát xung quanh ông và nói: “Trước khi ngài ra khỏi vòng tròn này, tôi muốn ngài cho tôi một câu trả với Viện Nguyên lão La Mã”, ngụ ý rằng người La Mã sẽ tuyên bố chiến tranh nếu nhà vua bước ra khỏi vòng tròn mà không cam kết rút khỏi Ai Cập ngay lập tức.[4]

Cướp phá Jerusalem và tàn sát người Do Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khi Antiochos đang bận rộn tại Ai Cập, một tin đồn truyền đến rằng ông đã bị giết. Giáo sĩ tối cao bị phế truất, Jason đã tập hợp lực lượng khoảng 1.000 binh lính và tạo ra một cuộc tấn công bất ngờ vào Jerusalem. Một quan chức của Antiochos mà được bổ nhiệm là giáo sĩ tối cao Menelaus, đã buộc phải bỏ chạy khỏi Jerusalem. Trên đường trở về của nhà vua từ Ai Cập năm 167 TCN, với sự tức giận về thất bại của mình, ông đã tấn công Jerusalem và phục hồi lại Menelaus, sau đó hành hình nhiều người Do Thái:[5]

Khi sự việc xảy ra được báo cho nhà vua, hắn đã nghĩ rằng Judea đã nổi loạn. Giận dữ như một con thú hoang dã, hắn đã rút khỏi Ai cập và đánh chiếm Jerusalem một cách dữ dội. Hắn đã ra lệnh cho quân lính của mình giết không tha bất cứ ai mà họ gặp và giết những người bắt được khi đang lẩn trốn trong nhà của mình. Đó là cuộc tàn sát bất kể già hay trẻ, giết cả phụ nữ và trẻ em, mổ bụng cả gái đồng trinh và trẻ sơ sinh. Trong khoảng 3 ngày, 80000 người đã chết, khoảng bốn mươi ngàn người khác bị tra tấn đến chết và một số lớn nữa bị bán làm nô lệ.


Để củng cố đế chế của mình và tăng cường quyền lực của ông đối với vùng đất này, Antiochus đã quyết định ủng hộ đối với người Do Thái đã Hy Lạp hóa bằng việc cấm nghi lễ tôn giáo và truyền thống Do Thái của người Do Thái chính thống và bằng cách xây dựng đền thờ của Zeus,[6] coi đó là vị thần tối cao. Điều này là sự đồng hóa đối với người Do Thái và khi họ từ chối, Antiochus đã gửi một đội quân để thi hành quyết định của ông. Bởi vì sự chống đối, thành phố đã bị phá hủy, nhiều người đã bị tàn sát, và một thành lũy quân sự Hy Lạp gọi là thành ACRA được thành lập.[7]

Không lâu sau việc này nhà vua đã gửi một nguyên lão người Athena tới để buộc những người Do Thái từ bỏ phong tục của tổ tiên của họ và không còn sống theo các luật của Thiên Chúa; còn xúc phạm đền thờ ở Jerusalem và dành nó cho vị thần Olympia Zeus. Một người đàn ông không thể giữ ngày Sa-bát hay kỷ niệm ngày lễ truyền thống, thậm chí cũng không thừa nhận rằng ông ta là một Người Do Thái. Theo kiến nghị của các công dân thành phố Ptolemais, một chiếu chỉ được ban hành ra lệnh áp dụng cho các thành phố Hy Lạp lân cận cách tiến hành tương tự đối với người Do Thái: bắt buộc họ tham gia vào các buổi hiến tế, và xử tội chết đối với những người không chấp nhận những phong tục của người Hy Lạp.

Những năm cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Lợi dụng sự bận tâm của Antiochos với các vấn đề ở phía Tây, vua Mithridates I của Parthia tấn công từ phía đông và chiếm thành phố Herat vào năm 167 TCN. Điều này gây ảnh hưởng đến tuyến đường thương mại với Ấn Độ và ngăn cách thế giới Hy lạp làm 2.

Nhận thấy mối nguy hiểm tiềm tàng từ phương đông, nhưng không bằng lòng với việc mất kiểm soát Judea. Antiochos đã gửi một vị tướng tên là Lysias để đối phó với Maccabe, trong khi nhà vua tự dẫn quân chủ lực Seleukos đi đối phó với người Parthia. Sau chiến dịch mở màn thành công trong chiến dịch miền đông của mình bao gồm chiếm lại Armenia, Antiochos qua đời đột ngột trong một trận dịch bệnh năm 164 TCN

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên britannica
  2. ^ C. Habicht, "The Seleucids and their rivals", in A. E. Astin, et al., Rome and the Mediterranean to 133 B.C., The Cambridge Ancient History, volume 8, p. 341
  3. ^ M. Zambelli, "L'ascesa al trono di Antioco IV Epifane di Siria," Rivista di Filologia e di Istruzione Classica 38 (1960) 363-389
  4. ^ Polybius 29.27.4, Livy 45.12.4ff.
  5. ^ Josephus, Wars of the Jews 1:1:1-2
  6. ^ Supported by Beavan's numismatic research showing that under Antiochus IV, Zeus replaced Apollo, who had been the main deity depicted on earlier Seleucid coinage.
  7. ^ 1 Maccabees 1:30-37; Witherington

Liên kết bên ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Antiochos IV Epiphanes
Sinh: 215 TCN Mất: 164 TCN
Tiền vị:
Seleucus IV Philopator
Vua nhà Seleukos
175–164 TCN
Kế vị
Antiochus V Eupator