Aoba (lớp tàu tuần dương)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nh97727.jpg
Tàu tuần dương hạng nặng Aoba không lâu sau khi hoàn tất
Khái quát về lớp tàu
Xưởng đóng tàu: Mitsubishi, Nagasaki
Kawasaki
Bên sử dụng: Naval Ensign of Japan.svg Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Lớp trước: Furutaka
Lớp sau: Myōkō
Thời gian đóng: 1924 - 1927
Hoàn tất: 2
Bị mất: 2
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu tuần dương hạng nặng
Trọng tải choán nước: 8.300 tấn (tiêu chuẩn);
9.000 tấn (sau cùng) [1]
Độ dài: 185,17 m (607 ft 6 in)
Sườn ngang: 15,83 m (51 ft 11 in) (ban đầu)
17,56 m (57 ft 7 in) (sau cùng)
Mớn nước: 5,71 m (18 ft 9 in) (ban đầu)
5,66 m (18 ft 7 in) (sau cùng)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước Brown Curtis
12 × nồi hơi Kampon
4 × trục
công suất 102.000 mã lực (76 MW)
Tốc độ: 66,7 km/h (36 knot)
Tầm xa: 13.000 km ở tốc độ 26 km/h
(7.000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 657
Vũ trang: Ban đầu:6 × pháo 200 mm (7,9 inch)/50 (3×2),
4 × pháo 120 mm (4,7 inch)/45 (4×1),
12 × ống phóng ngư lôi 610 mm (24 inch) (6×2)
Sau cùng: 6 × pháo 203 mm (8 inch)/50 (3×2),
4 × pháo 120 mm (4,7 inch)/45 (4×1),
8 × ống phóng ngư lôi 610 mm (24 inch) (2×4)
50 × súng phòng không 25 mm
Bọc giáp: đai giáp: 76 mm (3 inch)
sàn tàu: 36 mm (1,5 inch)
Máy bay mang theo: 1 × thủy phi cơ (ban đầu)
2 × thủy phi cơ (sau cùng)
Thiết bị bay: 1 × máy phóng

Lớp tàu tuần dương Aoba (tiếng Nhật: 青葉型巡洋艦 - Aoba-gata junyōkan) là một lớp bao gồm hai tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Chúng được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Kinugasa bị đánh chìm trong trận Hải chiến Guadalcanal ngày 13 tháng 11 năm 1942, trong khi Aoba bị đánh chìm ngày 28 tháng 7 năm 1945 tại Kure, Hiroshima.[2]

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Những chiếc trong lớp Aoba ban đầu được vạch kế hoạch như những chiếc thứ ba và thứ tư trong lớp Furutaka. Tuy nhiên, những vấn đề về thiết kế đối với lớp Furutaka đã đưa đến một số cải biến bao gồm các tháp pháo đôi và một máy phóng máy bay. Những cải biến này lại làm tăng thêm trọng lượng của cấu trúc bên trên của một thiết kế đã khá nặng nề, gây ra những vấn đề về sự ổn định. Dù sao, lớp Aoba đã đóng một vai trò quan trọng trong Thế Chiến II.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Aoba (青葉) 23 tháng 1 năm 1924 25 tháng 9 năm 1926 20 tháng 9 năm 1927 Bị đánh chìm 28 tháng 7 năm 1945
Kinugasa (衣笠) 24 tháng 10 năm 1924 24 tháng 10 năm 1926 30 tháng 9 năm 1927 Bị đánh chìm 14 tháng 11 năm 1942


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Aoba class cruiser tại Wikimedia Commons

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Whitley, M J (1995). Cruisers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. tr. 104 & 109. ISBN 1-85409-225-1. 
  2. ^ Lacroix, Japanese Cruisers, p. 794

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]