Apollo 11

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Apollo 11
Huy hiệu nhiệm vụ
Apollo 11 insignia.png
Thông tin nhiệm vụ[1]
Môđun điều khiển CM-107
tín hiệu gọi Columbia
khối lượng 30.320 kg
Môđun phục vụ SM-107
Môđun mặt trăng LM-5
tín hiệu gọi Eagle (Đại bàng)
khối lượng 16.448 kg
Số phi hành gia 3
Tên lửa phóng Saturn V SA-506
Bệ phóng LC 39A
Trung tâm vũ trụ Kennedy
Florida, HK
Ngày giờ phóng 16 tháng 7, 1969 (1969-07-16)
13:32:00 UTC
Hạ cánh mặt trăng 20 tháng 7, 1969   20:17:40 UTC
Biển Tĩnh lặng
0°40′26,69″B 23°28′22,69″Đ / 0,66667°B 23,46667°Đ / 0.66667; 23.46667
(dựa theo hệ tọa độ trục cực Trái Đất trung bình của IAU)
Thời gian EVA trên mặt trăng 2 h 36 ph 40 gi
Thời gian trên bề mặt mặt trăng 21 h 31 ph 20 gi
Khối lượng mẫu đất đá mặt trăng 21,55 kg (47,5 lb)
Số quỹ đạo mặt trăng 30
Tổng thời gian MĐDA trong quỹ đạo mặt trăng 59 h 30 ph 25,79 gi
Hạ cánh 24 tháng 7, 1969
16:50:35 UTC
13°19′B 169°9′T / 13,317°B 169,15°T / 13.317; -169.150 (Apollo 11 splashdown)
Thời gian bay 8 ng 03 h 18 ph 35 gi
Hình phi hành đoàn
Apollo 11.jpg
Trái sang phải: Armstrong, Collins, Aldrin
Các nhiệm vụ liên quan
Nhiệm vụ trước đó Nhiệm vụ tới
Apollo-10-LOGO.png Apollo 10 AP12goodship.png Apollo 12

Apollo 11 là chuyến bay không gian đã hạ cánh cùng con người đầu tiên đáp xuống Mặt Trăng, hai nhà phi hành gia Hoa Kỳ là Neil ArmstrongBuzz Aldrin, vào ngày 20 tháng 7, năm 1969, vào lúc 20:18 UTC. Armstrong trở thành người đầu tiên bước chân lên bề mặt của Mặt Trăng sáu giờ sau vào ngày 21 tháng 7 vào lúc 02:56 UTC. Armstrong dành hai tiếng rưỡi bên ngoài con tàu không gian, Aldrin có ít hơn một chút và cùng nhau, họ thu thập 47.5 pounds (21.5 kg) Đá Mặt Trăng cho chuyến trở về Trái Đất. Thành viên thứ 3 của Phi hành đoàn, Michael Collins, lái Mô-đun Điều Khiển một mình trên quỹ đạo của Mặt Trăng cho đến khi Armstrong và Aldrin quay về Mô-đun Điều Khiển chỉ một ngày trước khi họ phải bắt đầu hành trình về Trái Đất.

Phóng lên bởi tên lửa đẩy Saturn V từ Trung tâm Vũ trụ Kennedy từ Đảo Merritt, Florida vào ngày 16 tháng 7, Apollo 11 là chuyến bay có người lái thứ năm của Chương trình Apollo của NASA.

Tàu không gian Apollo có ba bộ phận: một Mô-đun Điều khiển (Command Module - CM) với cabin cho ba Phi hành gia cùng với phần duy nhất hạ cánh xuống Trái Đất; một Mô-đun Phục vụ (Service Module - SM), có chức năng hỗ trợ Mô-đun Chỉ huy với lực đẩy, năng lượng điện, Oxynước; và Mô-đun Mặt Trăng (Lunar Module - LM) cho việc hạ cánh trên Mặt Trăng.

Sau khi được gửi đến Mặt Trăng bởi tầng trên của tên lửa đẩy Saturn V, các Phi hành gia tách con tàu khỏi nó và du hành ba ngày cho đến khi đi vào quỹ đạo của Mặt Trăng. Armstrong và Aldrin sau đó di chuyển vào Mô-đun Mặt Trăng và hạ cánh tại Biển Tĩnh Lặng (Sea of Tranquility). Họ ở đó trong vòng 21 tiếng rưỡi sau khi hạ cánh trên bề mặt của Mặt Trăng. Sau khi bay lên bằng phần trên của Mô-đun Mặt Trăng và quay trở về Mô-đun Điều khiển với Collins, họ quay về Trái Đất và hạ cánh ở Biển Thái Bình Dương vào ngày 24 tháng 7.

Phát sóng trực tiếp trên TV đến khán giả toàn cầu, Armstrong bước trên bề mặt Mặt Trăng và miêu tả sự kiện ấy qua câu nói: "Đây là bước đi nhỏ bé của một người, nhưng là bước tiến khổng lồ của nhân loại." Apollo 11 kết thúc một cách hiệu quả Cuộc đua Không gian và hoàn thành một mục tiêu quốc gia được đề ra năm 1961 bởi Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy qua một cuộc họp báo trước Quốc Hội Hoa Kỳ: "Trước khi thập kỷ này kết thúc, ta sẽ đưa một người lên Mặt Trăng và đưa anh ta trở về Trái Đất an toàn."

Kế họach[sửa | sửa mã nguồn]

Phi hành đòan[sửa | sửa mã nguồn]

Vị Trí Phi Hành Gia
Chỉ Huy Neil A. Armstrong
Phi công của Mô-đun Điều khiển Michael Collins
Phi công của Mô-đun Mặt Trăng Edwin "Buzz" E. Aldrin, Jr.

Mỗi thành viên của Apollo 11 đã từng tham gia một chuyến bay vũ trụ trước nhiệm vụ này, dẫn đến việc đây là Phi hành đoàn thứ hai được cấu tạo từ các Phi hành gia kỳ cựu (Chuyến đầu tiên là Apollo 10) trong lịch sử chuyến bay không gian của loài người.

Collins thực chất được chọn là phi công của Mô-đun Điều Khiển(CMP) của Apollo 8 nhưng bị lọai bỏ do ông cần một ca phẫu thuật lưng và được thay thế bởi Jim Lovell, là Phi hành gia dự bị cho chuyến bay đó. Sau khi Collins được kiểm tra y tế và có thể quay trở lại, ông được phân công vào vị trí của Lovell trên tàu Apollo 11; với tư cách là cựu phi hành gia của Apollo 8, Lovell được chuyển về vị trí phi hành đòan dự bị của Apollo 11, nhưng được thăng cấp trở thành Chỉ huy Dự bị.

Phi hành đoàn Dự bị[sửa | sửa mã nguồn]

Vị Trí Phi Hành Gia
Chỉ Huy James A. Lovell, Jr.
Phi công của Mô-đun Điều Khiển William A. Anders
Phi công của Mô-đun Mặt Trăng Fred W. Haise, Jr.

Vào những năm đầu 1969, Anders chấp nhận một việc làm tại Hội đồng Vũ trụ Quốc gia, đến tháng 8, 1969 và thông báo rằng ông sẽ về hưu và trở thành Phi hành gia vào ngày hôm đó. Tại thời điểm đó, Ken Mattingly được chuyển từ Phi hành đòan Hỗ trợ đến Huấn luyện song song cùng Anders cho vị trí Chỉ huy Phi hành đòan Dự bị trong trường hợp Apollo 11 bị hõan quá kế họach phóng vào Tháng 7 (tại thời điểm này Anders sẽ không được tham gia nếu ông được cần tới) và sau đó sẽ tham gia Phi hành đoàn của Lovell và cuối cùng được bổ nhiệm là Phi công của Mô-đun Điều khiển trong phi vụ Apollo 13.

Đội hỗ trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Điều hành chuyến bay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cliff Charlesworth (Đội Xanh), phụ trách trong khoảng thời gian phóng và đi bộ trên Mặt Trăng
  • Gene Kranz (Đội Trắng), phụ trách trong khoảng thời gian hạ cánh
  • Glynn Lunney (Đội Đen), phụ trách trong khoảng thời gian bay lên từ bề mặt.

Tên mật mã[sửa | sửa mã nguồn]

Sau phi hành đòan của Apollo 10 đặt tên cho phi thuyền của họ Charlie BrownSnoopy, Phó Giám Đốc Quần Chúng Julian Scheer viết thư cho Giám Đốc của Trung Tâm Phi Thuyền Có Người Lái (Manned Spacecraft Center - MSC) đề nghị việc phi hành đòan của Apollo 11 giảm bớt việc thiếu nghiêm túc khi đặt tên cho phi thuyền của họ. Cái tên Đá Bào (Snowcone)Đống Rơm (Haystack) đã được sử dụng và tuyên truyền cho báo chí, nhưng Phi hành đòan quyết định đổi chúng.

Mô-đun Điều Khiển được đặt tên là Columbia phỏng theo tên Columbiad, một vỏ tàu không gian khổng lồ được bắn lên trời bởi một khẩu pháo (cũng ở Florida) trong cuốn tiểu thuyết năm 1865 Từ Trái Đất đến Mặt Trăng của Jules Verne. Mô-đun Mặt Trăng được đặt tên là Đại Bàng (Eagle) từ lòai quốc chim của Hoa Kỳ, Đại bàng đầu trọc, con vật được vẽ một cách rất nổi bật trên ký hiệu của nhiệm vụ.

Ký hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Ký hiệu của nhiệm vụ Apollo 11 được thiết kế bởi Collins, người muốn nó trở thành biểu tượng cho "Sự kiện hạ cánh trên Mặt Trăng một cách hòa bình của người Mỹ". Ông chọn một con Đại Bàng cho biểu tượng, đặt một nhành Olive trong mỏ của nó và vẽ khung nền là Mặt Trăng cùng Trái Đất ở một khỏang cách phía sau. Người phát ngôn của NASA nói móng của Đại Bàng nhìn quá "chiến tranh" và sau một vài cuộc thảo luận, nhành Olive được chuyển xuống móng Đại bàng. Phi hành đoàn quyết định số La Mã XI tại một số quốc gia sẽ không hiểu cho nên đã đi với chữ "Apollo 11"; họ quyết định sẽ không đặt tên của họ lên phù hiệu, để cho ký hiệu tượng trưng cho "Tất cả những ai đã làm việc để có được sự kiện đó." Mọi màu sắc đều tự nhiên, với màu xanh và viền màu vàng bên ngoài phù hiệu.

Khi đồng xu Dollar Eisenhower được xuất bản năm 1971, thiết kế của phù hiệu cho con Đại bàng được in trên mặt sau. Thiết kế cũng được sử dụng cho đồng xu nhỏ hơn, đồng Dollar Susan B. Anthony được xuất bản năm 1979, đúng một thập kỷ sau nhiệm vụ Apollo 11.

Vật lưu niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Các đồ vật lưu niệm được Neil Armstrong mang theo bao gồm một miếng gỗ từ cánh quạt trái từ chiếc máy bay đầu tiên của Anh Em Wright năm 1903 và một mảnh vải từ cánh của nó, cùng với một huy hiệu hình kim cương được tặng cho Deke Slayton từ các góa phụ của Phi hành đòan Apollo 1. Chiếc huy hiệu này đáng lẽ sẽ được mang theo trên Apollo 1 và được tặng cho Slayton sau nhiệm vụ nhưng sau vụ thảm họa nổ bãi phóng và lễ tang sau đó, các góa phụ tặng chiếc huy hiệu cho Slayton và Armstrong mang theo nó trên Apollo 11.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Video[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]