Arctic Monkeys

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arctic Monkeys
Arctic Monkeys - Orange Stage - Roskilde Festival 2014.jpg
Arctic Monkeys biểu diễn tại Roskilde Festival tại 5 tháng 7, 2014
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh The Death Ramps
Nguyên quán Sheffield, Anh
Thể loại Indie rock,[1][2][3] psychedelic rock,[4][5][6] post-punk revival, garage rock
Năm 2002 (2002)–nay
Hãng đĩa Domino
Hợp tác The Last Shadow Puppets, Mongrel, Reverend and the Makers, Queens of the Stone Age
Website arcticmonkeys.com
Thành viên hiện tại
Alex Turner
Jamie Cook
Nick O'Malley
Matt Helders
Thành viên cũ
Andy Nicholson

Arctic Monkeys là một ban nhạc indie rock được thành lập năm 2002 tại High Green, một vùng ngoại ô của Sheffield. Ban nhạc bao gồm Alex Turner (hát chính, lead/rhythm guitar), Jamie Cook (rhythm/lead guitar), Nick O'Malley (bass guitar, hát phụ), và Matt Helders (trống, hát phụ). Cựu thành viên Andy Nicholson (bass guitar, hát phụ) rời nhóm vào năm 2006 ngay sau khi album đầu tay được phát hành.

Ban nhạc đã phát hành năm album phòng thu: Whatever People Say I Am, That's What I'm Not (2006), Favourite Worst Nightmare (2007), Humbug (2009), Suck It and See (2011) và AM (2013), như cũng như một album live At the Apollo (2008).

Album đầu tay của ban nhạc đã trở thành album đầu tay bán nhanh nhất bởi một ban nhạc trong lịch sử âm nhạc Anh, vượt qua album cùng tên của Elastica và hiện vẫn là album đầu tay bán nhanh nhất bởi một ban nhạc ở Anh.[7] Ban nhạc đã giành được bảy giải Brit Awards— thắng Best British Group và Best British Album mỗi giải ba lần, và đã ba lần được đề cử cho giải Grammy.[8][9]

Phong cách âm nhạc và ảnh hưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Thể loại ban nhạc chơi chủ yếu là indie rock mặc dù họ thay đổi phong cách rock mỗi album. Hai album đầu Whatever People Say I Am, That's What I'm NotFavourite Worst Nightmare với nhạc garage rockpost-punk revival, với phần lời sắc bén của Turner làm trung tâm. Ở album đầu, Alex Turner xem xét các hành vi trong hộp đêm và văn hóa tại quê nhà ban nhạc, Sheffield.

Các chủ đề này tiếp tục xuất hiện trong Favourite Worst Nightmare. Các bài hát như "Fluorescent Adolescent" và "Do Me a Favour" nói về các mối quan hệ thất bại, hoài niệm và lớn lên, trong khi về phần nhạc lại uptempo và mạnh mẽ hơn.

Album thứ tư Suck It and See cho thấy ban nhạc đang khám phá các phong cách, kết hợp chúng với chủ đề trưởng thành mới tìm ra. Turner nói: "Tôi nghĩ album mới [Suck IT and See] là sự cân bằng giữa ba album đầu. Chẳng có gì như đứng taxi hay thứ gì giống thế, nhưng có một ít quan điểm của tôi những ngày đầu và sự hài hước, nhưng cũng có một tí 'Humbug' khi ra khỏi xó."[10]

Trong một phỏng vấn với tạp chí NME năm 2012, Alex Turner cho John Lennon là người gây ảnh hưởng lớn về cách viết lời. Về Lennon, Turner nói; "Tôi nhớ khi tôi bắt đầu viết bài hát, và viết lời, tôi thực sự muốn mình có thể viết một bài hát như "I Am The Walrus", và tôi thấy nó rất khó. Bạn nghe và cảm thấy nó nghe thật vô nghĩa, nhưng thật khó mà viết những thứ đó và làm nó thật thuyết phục. Lennon chắc chắn có tài về việc đó".[11]

Theo ban nhạc, AM có nhiều âm hưởng về hip-hop. Turner liệt kê Outkast, AaliyahBlack Sabbath gây ảnh hưởng lên album.[12][13] Nó có phần beat vững chắc hơn trên phần nhạc mang cảm giác điềm tỉnh, album cũng có các bài hát nhanh hơn như "R U Mine?", và nhẹ hơn như "Mad Sounds" và "No.1 Party Anthem".

Thành viên ban nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện tại
Lưu diễn
  • Thomas Rowley - bàn phím, guitar, bộ gõ, hát phụ (2013-nay)
  • Bill Ryder-Jones - guitar, bàn phím (2013)
  • Davey Latter - bộ gõ, trống & bass tech (2013-nay)
Trước đây
  • Andy Nicholson – bass guitar, hát phụ (2002–2006)
  • Glyn Jones - hát chính (2002)

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Arctic Monkeys go rap - News”. Q. 28 tháng 2 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2011. 
  2. ^ “BBC – Seven Ages of Rock "What the World Is Waiting For"”. Seven Ages of Rock. 2007. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2011. 
  3. ^ “Arctic Monkeys – Intelligent indie-rock from Sheffield”. Clash. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2011. 
  4. ^ “Track by track review: Arctic Monkeys - AM”. Gigwise. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2014. 
  5. ^ “Arctic Monkeys' 'AM' a psychedelic synthesis | The Daily Californian”. Dailycal.org. 8 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2014. 
  6. ^ “Arctic Monkeys begin work on 'psychedelic' third album | News”. Nme.Com. 16 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2014. 
  7. ^ “Susan Boyle beats Leona Lewis, Arctic Monkeys to 'biggest first week sales for UK debut album' title.”. NME. 29 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2009. 
  8. ^ "BRITs Profile: Arctic Monkeys. Brits.co.uk. Retrieved 24 November 2012
  9. ^ "Awards & Features: Arctic Monkeys". Metro lyrics. Retrieved 24 November 2012
  10. ^ “Arctic Monkeys: ''Suck It And See' is a balance between our first three albums'”. NME. 31 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2011. 
  11. ^ “Arctic Monkeys' Alex Turner hails John Lennon's lyrics”. NME. 20 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2013. 
  12. ^ “40 Things We've Learned About Arctic Monkeys' 'AM' - Photo 11”. NME. 31 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2013. 
  13. ^ “40 Things We've Learned About Arctic Monkeys' 'AM' - Photo 12”. NME. 31 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2013.