Arirang

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arirang
Hangul 아리랑
Hanja (Hán tự) 阿里郎
Hán-Việt A Lý Lang
McCune-Reischauer Arirang
Romaja quốc ngữ Arirang

Arirang (hay còn gọi là A Lý Lang) là một bài dân ca Triều Tiên, thường được xem là quốc ca không chính thức của Hàn Quốc.[1] Arirang là một từ cổ tiếng Hàn mà không có nghĩa trong tiếng hiện đại. Tháng 12 năm 2012 bài hát được ghi tên vào Danh sách đại diện của Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại chương trình của UNESCO.[2][3] Sau đó là một thông báo của Cục quản lý di sản văn hóa Hàn Quốc cho kế hoạch 5 năm quảng bá và bảo vệ bài hát. Kế hoạch này nhằm mục đích hổ trợ tổ chức lễ hội "Arirang" của từng khu vực, như xây dựng một kho lưu trữ bài hát, triễn lãm, quỹ nghiên cứu; số tiền lên đến 33.6 tỉ ₩.[4]

Nguyên gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết phiên bản của bài hát mở đầu bằng cách mô tả công việc khó nhọc khi vượt qua một ngọn núi. "Arirang" là tên của sự vượt qua và chính vì điều đó nó được chọn làm tiêu đề của bài hát. Một số phiên bản của "Arirang" đề cập đến Mungyeong Saejae, là ngôn núi chính băng qua triều đại Joseon cổ con đường giữa Seoul và phía bắc tỉnh Gyeongsang.

Có vẻ như số lần vượt qua ở Hàn Quốc được gọi là "Arirang vượt qua". Một trong những lần vượt qua là một ngọn đồi ở trung tâm-đông bắc Seoul. Đó là Arirang Pass, tuy nhiên, ban đầu được gọi là Jeongneung vượt qua và đổi tên vào năm 1926, để kỉ niệm cho việc phát hành của bộ phim Arirang.[5] Phiên bản cũ ra trước bộ phim.

Arirang vượt qua (아리랑 고개) là một điểm hẹn do tưởng tượng của những người đang yêu nhau trong vùng đất mơ mộng, mặc dù phải thực sự vượt qua những ngọn núi, được gọi là, "Arirang Gogae," bên ngoài cổng Đông nhỏ của Seoul. Nhân vật nữ chính của câu truyện từ bài hát Arirang có nguồn gốc từ một cô gái giúp việc của Miryang. Trong thực tế, cô là mẫu người phụ nữ khiêm nhường bị giết chết bởi tình yêu đơn phương. Nhưng thời gian trôi qua, câu truyện bi thảm dần được thay đổi thành tình yêu không được hồi đáp của người con gái và than thở về sự vô cảm của người cô ấy yêu. Ca khúc có giai điệu ngọt ngào và hấp dẫn. Câu truyện được kể lại từ "Miss Arirang" trong Truyện dân gian Hàn Quốc xưa (Korean Cultural Series, Vol. VI).

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát tồn tại nhiều phiên bản. Chúng có thể được nhóm lại thành các nhóm dựa theo lời bài hát, điệp khúc, bản chất của điệp khúc, giai điệu chung và nhiều tiêu chí khác. Tựa của nhiều phiên bản khác nhau thường được bắt đầu bằng tên của nơi xuất xứ hoặc một số điều quan trọng khác.

Bản nguyên gốc của Arirang là Jeongseon Arirang , bài đã được hát trên 600 năm nay. Tuy nhiên, bản nổi tiếng nhất lại là bản ở Seoul. Tên của nó là Bonjo Arirang, dù rằng nó không phải là bản chuẩn (từ "bonjo"- 본조; 本調, nghĩa là "chuẩn"). Bản này thường được gọi đơn giản là Arirang và có lịch sử khá mới. Bản này nổi tiếng từ khi nó được sử dụng làm bản nhạc nền chính cho bộ phim nổi tiếng trước đây "Arirang" (1926).[6] Bản nhạc nền này được gọi là Sin Arirang (Shin; có nghĩa là "mới") hoặc Gyeonggi Arirang theo tên của nguồn gốc của nó, Seoul, trước đây thuộc tỉnh Gyeonggi. (Các tựa Bonjo ArirangSin Arirang thỉnh thoảng cũng được dùng cho các phiên bản khác của bài hát.)

Các phiên bản dân gian của Arirang có lịch sử lâu đời và được xem là bản chuẩn là:

Paldo Arirang thường được sử dụng chung để đề cập đến nhiều phiên bản pwr các vùng xa thuộc tám tỉnh thành lịch sử (Paldo).

Lời bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng dưới đây là lời điệp khúc (hai dòng đầu tiên; điệp khúc trước lời thứ nhất) và lời thứ nhất (dòng thứ ba và thứ tư) của phiên bản chuẩn trong Hangul, Romaja quốc ngữ (Tiếng Hàn), và bản dịch dựa theo tiếng Anh, tiếng Việt:

Nguyên bản tiếng Hàn
Romaja quốc ngữ
Tiếng Anh
아리랑, 아리랑, 아라리요...
아리랑 고개로 넘어간다.
나를 버리고 가시는 님은
십리도 못가서 발병난다.
Arirang, Arirang, Arariyo...
Arirang gogaero neomeoganda.
Nareul beorigo gasineun nimeun
Simnido motgaseo balbbyeongnanda.
Arirang, Arirang, Arariyo...[7]
Crossing over Arirang Pass.[8]
Dear[9] who abandoned me [here]
Shall not walk even ten li[10] before his/her feet hurt.[11]

Phiên bản chuẩn của Arirang (Seoul Arirang hay Gyeonggi Arirang) gồm nhiều lời khác nhau, mặc dù các lời khác không thường xuyên hát lời thứ nhất. Dưới đây là sự khác nhau của các ca sĩ  :

Nguyên bản tiếng Hàn
Romaja quốc ngữ
Tiếng Anh
Tiếng Việt
청천하늘엔 잔별도 많고
우리네 가슴엔 희망도 많다
Cheongcheonghaneuren chanbyeoldo manko
Urine gaseumen huimangdo manta
Just as there are many stars in the clear sky,
There are also many dreams in our heart.
Có bao nhiêu sao trên trời quang,
Thì sẽ có bấy nhiêu mơ ước trong tim chúng ta.
저기 저 산이 백두산이라지
동지 섣달에도 꽃만 핀다
Jeogi jeo sani Baekdusaniraji
Dongji seotdaredo kkonman pinda
There, over there that mountain is Baekdu Mountain,
Where, even in the middle of winter days, flowers bloom.
Đó, ở đó là núi Baekdu,
Nơi đó, ngay cả giữa mùa đông,những bông hoa vẫn nở.

Lời phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tất cả các phiên bản của bài hát, điệp khúc và mỗi câu có chiều dài bằng nhau. Trong một vài phiên bản, chẳng hạn như phiên bản chuẩn và Jindo Arirang, điệp khúc đầu tiên đứng trước lời thứ nhất, trong khi các phiên bản khác, bao gồm cả Miryang Arirang, điệp khúc đầu tiên theo sau lời thứ nhất. Có lẽ cách dễ nhất để nhận biết các phiên bản; ngoài giai điệu, các điểm khác nhau giữa các phiên bản là phần điệp khúc của lời bài hát. Trong bản chuẩn và một số bản khác, câu đầu tiên của phần điệp khúc là "Arirang, Arirang, arariyo...," trong khi cả hai bản Jindo ArirangMiryang Arirang, câu đầu tiên của phần điệp khúc là "Ari arirang, seuri seurirang...." ("Arariyo" và "seurirang" )

Nguyên bản tiếng Hàn
아리랑 아리랑 아라리요
아리랑 고개로 넘어간다

Bonjo Arirang[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên bản tiếng Hàn
Tiếng Anh
Tiếng Việt
If you leave and forsake me, my own,
Ere three miles you go, lame you'll have grown.
Nếu rời bỏ tôi, mình ơi
Nguyền cho người bị què quặt suốt 3 dặm người đi.
Wondrous time, happy time—let us delay;
Till night is over, go not away.
Thời gian diệu kỳ, thời gian hạnh phúc, xin hãy ngừng trôi;
Khi đêm hết, xin đừng đi.
Arirang Mount is my Tear-Falling Hill,
So seeking my love, I cannot stay still.
Ngọn núi Arirang chính là nước mắt ta rơi xuống thành đồi,
Thế nên, nếu phải tìm kiếm người tôi yêu, tôi không thể đứng yên.
The brightest of stars stud the sky so blue;
Deep in my bosom burns bitterest rue.
Những vì sao sáng nhất rải khắp bầu trời một màu xanh thẳm;
Niềm hối tiếc cay đắng đốt cháy đáy lòng tôi.
Man's heart is like water streaming downhill;
Woman's heart is well water—so deep and still.
Trái tim đàn ông như nước chảy xuôi dòng;
Trái tim phụ nữ là nước giếng khơi- thật sâu và lặng.
Young men's love is like pinecones seeming sound,
But when the wind blows, they fall to the ground.
Trái tim chàng trai trẻ như trái thông, nhìn thì thật tuyệt
Nhưng khi gió thổi, chúng liền rớt xuống đất.
Birds in the morning sing simply to eat;
Birds in the evening sing for love sweet.
Chim buổi sáng ríu rít chỉ để đòi ăn;
Chim buổi tối hót vang vì mật ngọt tình yêu.
When man has attained to the age of a score,
The mind of a woman should be his love.
Khi các chàng trai đến tuổi trưởng thành,
Hy vọng rằng chàng yêu cả tâm trí của phụ nữ.
The trees and the flowers will bloom for aye,
But the glories of youth will soon fade away.
Cây và hoa nở sẽ nở vĩnh viễn,
Nhưng vinh quang tuổi trẻ sẽ sớm tắt.

Miryang Arirang[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên bản tiếng Hàn
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Look on me! Look on me! Look on me!
In midwinter, when you see a flower, please think of me!
Chorus: Ari-arirang! Ssuri-Ssurirang! Arariga nanne!
O'er Arirang Pass I long to cross today.
Hãy nhìn ta! Hãy nhìn ta! Hãy nhìn ta!
Vào giữa mùa đông, khi người ngắm một đóa hoa, xin hãy nghĩ về ta!
Điệp khúc: Ari-arirang! Ssuri-Ssurirang! Arariga nanne!
O'er Arirang Ngọn đèo ta mong mỏi được đi qua hôm nay.
Moonkyung Bird Pass has too many curves
Winding up, winding down, in tears I go.
Đèo Chim Moonkyung có quá nhiều khúc quanh
Lượn lên, lượn xuống, ta đi trong lệ sầu.
Carry me, carry me, carry me and go!
When flowers bloom in Hanyang, carry me and go.
Mang tôi đi, mang tôi đi, mang tôi đi!
Khi hoa nở ở, xin hãy mang tôi đi.

Bird Pass hay "Saejae" là đỉnh của một ngọn núi cao, nằm ở phía Bắc Moonkyung trong đường quốc lộ cổ, nối Seoul với Miryang và Tongnae (Pusan). Nụ hôn bầu trời cao và gồ ghề trong mắt họ . Đó là bài hát tình yêu của một vũ nữ Miryang người đã bỏ lại tình yêu của mình ở Seoul (Hanyang). Cô ấy đang gọi anh ta để đưa hai người đến Hanyang. Cô ấy tin rằng vẻ đẹp của mình hơn hết các loài hoa ở Hanyang. Ca từ của dòng đầu tiên trong phần điệp khúc là âm thâm buồn bã của sự chia ly. Bài hát này được viết bởi Kim Dong Jin.

Gangwon Arirang[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên bản tiếng Hàn
Tiếng Anh
Tiếng Việt
Castor and camellia, bear no beans!
Deep mountain fair maidens would go a-flirting.
Chorus: Ari-Ari, Ssuri-Ssuri, Arariyo!
Ari-Ari Pass I cross and go.
Castor và trà không hề đậu quả!
Thiếu nữ dưới chân núi sẽ đi tán tỉnh
Điệp khúc: Ari-Ari, Ssuri-Ssuri, Arariyo!
Ari-Ari Những ngọn đèo tôi đi, tôi qua.
Though I pray, my soya field yet will bear no beans;
Castor and camellia, why should you bear beans?
Dù tôi cầu cho cánh đồng đậu tương của tôi đừng vội ra quả;
Castor và trà, người sẽ đậu quả chứ?
When I broke the hedge bush stem, you said you'd come away;
At your doorway I stamp my feet, why do you delay?
Khi ta phát bụi cỏ, người nói người sẽ đi xa;
Tại bậc thềm nhà người, ta đứng chôn chân, sao người vẫn trì hoãn chưa muốn trở về?
Precious in the mountains are darae and moroo;
Honey sweet to you and me would be our love so true.
Thứ quý giá trên núi là darae và moroo;
Mật ong ngọt ngào nói với người và ta rằng, tình yêu chúng ta là chân thật.
Come to me! Come to me! Come and join me!
In a castor and camellia garden we'll meet, my love!
Đến với ta! Đến với ta! Đến cùng ta!
Ở vường castor và vường trà, chúng ta sẽ gặp nhau, người yêu dấu hỡi!

Thiếu nữ cao nguyên muốn trang điểm với hoa trà dầu và đi tán tỉnh thay vì làm việc với đậu tương. Núi nho moroo và chuối darae là thực phẩm quý giá đối với người dân vùng núi. Bài hát là sự mỉa mai, nhưng cảm xúc là để an ủi những người thợ gặt cô đơn những người đi thu nhập những trái cây rừng trong rừng sâu của Kangwon-do.

Hợp tác với Hoa Kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Chính phủ Hàn Quốc chỉ định Arirang là ca khúc diễu hành chính thức của Sư đoàn bộ binh Quân đội Hoa Kỳ từ 26 tháng 5 1956,[12]

Vào 26 tháng 2, 2008, New York Philharmonic trình diễn lại Arirang cho chuyến đi chưa từng có của mình ở Triều Tiên.[13]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [Mira] (1998). One Thousand Chestnut Trees. New York: Riverhead Books. tr. 278. ISBN 1-57322-738-2. 
  2. ^ “Arirang, lyrical folk song in the Republic of Korea”. Intangible Heritage. UNESCO. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  3. ^ Chung, Ah-young (12 tháng 12 năm 2012). “'Arirang' makes it to UNESCO heritage”. Korea Times. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2013. 
  4. ^ “UNESCO Puts 'Arirang' on Intangible Heritage List”. Chosun Ilbo. 6 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  5. ^ According to an article on the pass from the Seoul city government's website ([1]; in Korean only).
  6. ^ See Yonhap News's article ([2]) for a discussion of the song's history and its connection to the film.
  7. ^ "Arariyo" ("아라리요") has no meaning and simply helps the flow of the song.
  8. ^ Pronouns are often omitted in Korean, but this refers to "nim" of line 3.
  9. ^ Grammatical gender is often not conveyed in Korean sentences, so the gender of the singer and of the "dear" is not specified.
  10. ^ Ten li are equivalent to about 4 kilometers, or 2.5 miles.
  11. ^ "His/her feet hurt" ("balbyeong nanda"; "발병 난다") could be translated literally as "he/she develops a foot disease," but the sense being conveyed is that of having hurt feet after trudging over a mountain pass.
  12. ^ 7th Infantry Division Assn (tiếng Anh)
  13. ^ "New York Philharmonic Performs in North Korea", NY Times, February 26, 2008 [3]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nghe[sửa | sửa mã nguồn]