Arsenopyrit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arsenopyrite
Arsenopyrite, Panasqueira Mine, Portugal
Thông tin chung
Thể loại Nhóm sunfua
Công thức hóa học FeAsS
Màu Xám thép đến trắng bạc
Dạng thường tinh thể Dạng hình kim, lăng trụ, ngắn và dày; có sọc; cũng có thể là dạng rắn, hình hột, hình trụ
Hệ tinh thể Hệ tinh thể đơn nghiêng; 2/m
Song tinh Phổ biến ở mặt {100} và {001}, song tinh tiếp xúc/ đâm xuyên ở mặt {101}
Cát khai 110 (dễ thấy)
Vết vỡ Hơi giống vỏ sò đến ráp
Độ bền Giòn
Độ cứng Mohs 5.5 - 6
Ánh Kim loại
Màu vết vạch Đen
Tính trong mờ Mờ đục
Tỷ trọng riêng 5.9 - 6.2
Đa sắc Yếu
Tính nóng chảy
Độ hòa tan Axit Nitric
Các đặc điểm khác Có mùi tỏi khi đập nát, có màu xanh lá cây nhạt khi bị phong hóa, nhuộm màu xanh trên tường đá
Tham chiếu [1][2]

Arsenopyrite là một hợp chất sắt asen sulfua (FeAsS). Nó là một khoáng vật cứng (Mohs 5.5-6), ánh kim loại, mờ đục, màu xám thép đến trắng bạc với tỷ khối cao (6.1).[1] Khi hòa tan trong axit nitric, nó giải phóng nguyên tố Lưu huỳnh. Khi arsenopyrite bị nung nóng, nó trở nên có từ tính và có hơi độc thoát ra. Với hàm lượng 46% là arsen, arsenopyrite, cùng với opiment, là nguồn quặng arsen chủ yếu. Khi mỏ arsenopyrite tiếp xúc với khí quyển, thông thường trong quá trình khai mỏ, khoáng vật này sẽ bị oxi hóa một cách chậm chạp, chuyển arsen thành các oxit dễ tan hơn trong nước, tạo thành hiện tượng rút nước mỏ axit.

Dạng tinh thể, độ cứng, tỷ khối, và mùi tỏi khi đập vỡ là các yếu tố đã được xác định. Arsenopyrite trong văn học cổ thường được gọi là mispickel, một tên có nguồn gốc từ Đức [1].

Arsenopyrite cũng gắn liền với lượng lớn vàng. Hệ quả là nó có vai trò như một dụng cụ để phát hiện đá ngầm chứa vàng. Vàng gắn với arsenopyrite khó rèn, chúng khó tách ra từ quặng.

Arsenopyrite được tìm thấy ở các mạch nhiệt dịch nhiệt độ cao, ở khoáng vật pegmatites, và ở các vùng tiếp xúc biến chất.

Tinh thể học[sửa | sửa mã nguồn]

Arsenopyrite kết tinh ở thể đơn nghiêng và thường tạo thành thể lăng trụ hoặc thể hình cột với đường sọc và song tinh. Arsenopyrite trước đây được cho rằng có kết cấu tinh thể trực thoi, nhưng sau đó đã được chứng tỏ là thể đơn nghiêng. Trong cấu tạo phân tử, mỗi nguyên tử Fe liên kết với 3 nguyên tử Á và 3 nguyên tử S. Hợp chất có thể được miêu tả ion Fe3+ liên kết với ion phức AsS3-. Sự liên kết giữa các nguyên tử tương tự với marcasite hơn là pyrite. Miêu tả ion là không đầy đủ vì khoáng vật có tính bán dẫn và liên kết Fe-As và Fe-S khá giống liên kết cộng hóa trị.[3]

Các khoáng vật liên quán[sửa | sửa mã nguồn]

Rất nhiều các kim loại chuyển tiếp có thể thay thế sắt trong arsenopyrite. Nhóm arsenopyrite bao gồm các khoáng vật sau:

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Hurlbut, C. S.; Klein, C., 1985, Manual of Mineralogy, 20th ed., ISBN 0-471-80580-7
  2. ^ http://rruff.geo.arizona.edu/doclib/hom/arsenopyrite.pdf Handbook of Mineralogy
  3. ^ Vaugn, D. J.; Craig, J. R. Mineral Chemistry of Metal Sulfides" Cambridge University Press, Cambridge: 1978. ISBN 0-521-21489-0.