Arseny Alexandrovich Tarkovsky

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arseny Tarkovsky
Sinh 25 tháng 6, 1907(1907-06-25)
Elisavetgrad, Đế chế Nga
Mất 27 tháng 5, 1989 (81 tuổi)
Moskva, Liên Xô
Công việc Nhà thơ, Nhà văn
Thể loại Thơ

Arseny Alexandrovich Tarkovsky (tiếng Nga: Арсений Александрович Тарковский, 25 tháng 6 năm 1907 – 27 tháng 5 năm 1989) – là dịch giả, nhà thơ Nga. Ông được coi là một nhà thơ lớn của Nga thế kỷ XX. Ông cũng là cha của đạo diễn phim nổi tiếng Andrey Tarkovsky.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Arseny Tarkovsky sinh ở Elisavetgrad (nay thuộc tỉnh Kherson, Cộng hòa Ukraina). Bố làm việc ở ngân hàng nhưng tham gia vào các cuộc khởi nghĩa những năm 1880 nên bị đi tù 3 năm và sau đó bị đày đi vùng Sibêri. Khi được trở về Elisavetgrad ông cũng đi làm báo, viết bài cho các báo ở Elisavetgrad và Odessa.

Năm 1923 Arseny Tarkovsky đến Moskva ở với cô (chị của bố). Năm 1925 vào học trường viết văn và tốt nghiệp năm 1929. Thập niên 1920 vừa là cộng tác của báo Гудок, vừa học trường viết văn vừa sáng tác thơ, văn. Năm 1931 làm việc ở Đài phát thanh và viết một số vở kịch. Năm 1933 ông tập trung dịch thơ của các nhà thơ phương Đông và kết quả là đã để lại nhiều bản dịch thơ nổi tiếng của các nhà thơ Ả-rập, Gruzia, Armenia

Thời kỳ Thế chiến II Arseny Tarkovsky làm ở tờ báo quân đội Боевая тревога nhưng không in thơ của mình mà chỉ đến ngày tròn 50 tuổi ông mới in ra. Hai mươi năm tiếp theo đó ông in 6 tập thơ: "Перед снегом" (1962); "Земле земное" (1966); "Вестник" (1969); "Стихотворения" (1974); "Зимний день" (1980); "Избранное" (1982).

Năm 1983 ông in tập Стихи разных лет gồm những bài thơ hay chưa từng in ở các tập trước đây. Cuốn sách cuối cùng От юности до старости của ông được tặng Giải thưởng Nhà nước Liên Xô tháng 11 năm 1989 (sau khi chết). Tháng 2 năm 2008 Hội đồng thành phố Moskva tuyên bố sẽ xây dựng xong bảo tàng về hai cha con Arseny và Andrei Tarkovsky và sẽ mở cửa vào năm 2011.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Перед снегом (1962)
  • Земле — земное (1966)
  • Вестник (1969)
  • Волшебные горы (1978)
  • Зимний день (1980)
  • Избранное (полное прижизненное собрание стихотворений и переводов) (1982)
  • Стихи разных лет (1983)
  • От юности до старости (1987)
  • Быть самим собой (1987)
  • Благословенный свет (1993)
  • Собрание сочинений в 3-х тт. (1991—1993)

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Mưa đêm
 
Đấy là chuyện về những giọt mưa rơi
Bay từ trong ánh sáng vào bóng tối.
Theo ý của cái lần đầu tiên ấy
Mình gặp nhau trong một buổi xấu trời.
 
Và chỉ những cầu vồng trong màn sương
Quanh những ngọn đèn lắt lay, mờ mịt
Chúng đã từng báo cho em biết trước
Một điều rằng thân thiết mối tình anh.
 
Về điều rằng mùa hè đã qua nhanh
Rằng cuộc sống âu lo và tươi sáng
Và dù em đã sống, nhưng ít lắm
Em hãy còn sống ít ở trần gian.
 
Những giọt mưa như nước mắt long lanh
Mưa trên gương mặt của em lấp lánh
Mà anh vẫn hãy còn chưa biết đến
Ta sẽ sống qua bao sự điên cuồng.
 
Anh nghe giọng nói của em xa xăm
Hai chúng mình không giúp gì nhau được
Mưa suốt đêm trên mái nhà gõ đập
Như ngày nào đã từng gõ suốt đêm.
 
Anh sợ là đã quá muộn màng
 
Anh sợ là đã quá muộn màng
Để anh đi mơ về niềm hạnh phúc
Anh sợ là đã quá muộn màng
Nhoài người về phía của em
Xa lạ và tối đen như mực.
 
Anh đã từng biết cái đêm
Cái đêm tôi tăm, không ánh lửa
Và anh đã từng biết đến em
Không lặng yên và rất tươi trẻ
Trong những khi em chẳng có anh.
 
Anh từng biết, như bao người khác
Trong giờ muộn màng của nỗi buồn anh
Anh từng biết, như bao người khác
Đang nhìn vào đôi mắt rất đen
Những con mắt thật là tai ác.
 
Và trong cái đêm ghen tỵ của anh
Những gót giày của em gõ nhịp
Và trong cái đêm ghen tỵ của anh
Cơn ấm nồng đầu tiên ngây ngất
Thở dồn trên ngực của em.
 
Anh từng một thuở trẻ trung
Và em đến từ bao đêm ấy
Anh từng một thuở trẻ trung
Hiểu cái lạnh ngạt hơi đến vậy
Và nước lạnh mùa xuân trong máu của em.
 
Giá được như ngày xưa…
 
Giá được như ngày xưa, từng kiêu hãnh
Thì anh đã bỏ lại em đến muôn đời.
Tất cả những gì không đáng mang theo
Và tất cả những gì không nên bỏ lại –
Vương quốc của anh giờ hai nửa chia đôi.
 
Thì anh sẽ nói rằng:
- Em mang đi theo mình
Một trăm lời hứa, một trăm ngày lễ
Một trăm lời. Cái này thì em có thể mang.
 
Chỉ còn lại cho anh lạnh lẽo bình minh
Và một trăm chuyến tàu đến muộn
Một trăm giọt mưa trên đường tàu điện
Một trăm ngõ, một trăm phố và một trăm
Giọt nước mưa chạy theo vết của em.
 
Từ sáng sớm, anh đợi từ hôm qua
 
Từ sáng sớm, anh đợi từ hôm qua
Em không đến – mọi người đoán thế
Em còn nhớ không, tiết trời khi đó?
Như ngày vui! Anh không mặc bành tô.
 
Hôm nay em đến, trời dành cho ta
Một ngày âm u rất là đặc biệt
Mưa, và đặc biệt là trong giờ chót
Chạy theo nhánh cành những giọt nước mưa.
 
Không có lời an ủi, không khăn để lau khô…
 
Ngày 25 tháng 6 năm 1935
 
Không quan trọng ngày lễ của tôi có màu xám hay màu đỏ
Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng trên cửa sổ luôn có hoa hồng
Không phải là sự biết ơn, mà tình cảm đủ đầy như thế
Trong cái ngày này tôi luôn có được thường xuyên.
Mà nếu tôi không đúng, thì hãy nói vì sao tôi lại cần
Sự yên lặng của cỏ hoa, tình bạn của những khu rừng nhỏ
Những mũi tên của cánh chim, và tiếng suối rì rào thỏ thẻ
Giống như lời tỏ tình của những người vừa điếc lại vừa câm?
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng
Ночной дождь
 
То были капли дождевые,
Летящие из света в тень.
По воле случая впервые
Мы встретились в ненастный день.
 
И только радуги в тумане
Вокруг неярких фонарей
Поведали тебе заране
О близости любви моей,
 
О том, что лето миновало,
Что жизнь тревожна и светла,
И как ты ни жила, но мало,
Так мало на земле жила.
 
Как слёзы, капли дождевые
Светились на лице твоём,
А я ещё не знал, какие
Безумства мы переживём.
 
Я голос твой далёкий слышу,
Друг другу нам нельзя помочь,
И дождь всю ночь стучит о крышу,
Как и тогда стучал всю ночь.
 
Я боюсь, что слишком поздно..
 
Я боюсь, что слишком поздно
Стало сниться счастье мне.
Я боюсь, что слишком поздно
Потянулся я к беззвездной
И чужой твоей стране.
 
Мне-то ведомо, какою -
Ночью темной, без огня,
Мне-то ведомо, какою
Неспокойной, молодою
Ты бываешь без меня.
 
Я-то знаю, как другие,
В поздний час моей тоски,
Я-то знаю, как другие
Смотрят в эти роковые,
Слишком темные зрачки.
 
И в моей ночи ревнивой
Каблучки твои стучат,
И в моей ночи ревнивой
Над тобою дышит диво -
Первых оттепелей чад.
 
Был и я когда-то молод.
Ты пришла из тех ночей.
Был и я когда-то молод,
Мне понятен душный холод,
Вешний лед в крови твоей.
 
Если б, как прежде, я был горделив
 
Если б, как прежде, я был горделив,
Я бы оставил тебя навсегда;
Все, с чем расстаться нельзя ни за что,
Все, с чем возиться не стоит труда,-
Надвое царство мое разделив.
 
Я бы сказал:
- Ты уносишь с собой
Сто обещаний, сто праздников, сто
Слов. Это можешь с собой унести.
 
Мне остается холодный рассвет,
Сто запоздалых трамваев и сто
Капель дождя на трамвайном пути,
Сто переулков, сто улиц и сто
Капель дождя, побежавших вослед.
 
С утра я тебя дожидался вчера
 
С утра я тебя дожидался вчера,
Они догадались, что ты не придешь,
Ты помнишь, какая погода была?
Как в праздник! И я выходил без пальто.
 
Сегодня пришла, и устроили нам
Какой-то особенно пасмурный день,
И дождь, и особенно поздний час,
И капли бегут по холодным ветвям.
 
Ни словом унять, ни платком утереть...
 
25 июня 1935
 
Хорош ли праздник мой, малиновый иль серый,
Но все мне кажется, что розы на окне,
И не признательность, а чувство полной меры
Бывает в этот день всегда присуще мне.
А если я не прав, тогда скажи - на что же
Мне тишина травы и дружба рощ моих,
И стрелы птичьих крыл, и плеск ручьев, похожий
На объяснение в любви глухонемых?

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]