Arthur Rimbaud

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Arthur Rimbaud

Arthur Rimbaud
Sinh 20 tháng 10 1855
Charleville, Pháp
Mất 10 tháng 11, 1891 (37 tuổi)
Marseille, Pháp
Công việc Nhà thơ
Thể loại Thơ, tản văn

Chữ ký

Jean Nicolas Arthur Rimbaud (20 tháng 10 năm 1854 – 10 tháng 11 năm 1891) – nhà thơ Pháp, một trong những người sáng lập trường phái thơ tượng trưng (Symbolisme), là nhà thơ có ảnh hưởng lớn tới văn họcnghệ thuật hiện đại.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một cuốn thơ Rimbaud

Arthur Rimbaud sinh ở Charleville (nay là Charleville-Mézières), miền đông bắc nước Pháp. Bố là Frédéric Rimbaud, một sĩ quan phục vụ ở Algérie, mẹ là Vitalie Cuif, xuất thân từ một gia đình nông dân. Bố mẹ chia tay nhau khi Arthur Rimbaud mới 4 tuổi nên sự giáo dục chủ yếu là từ mẹ. Thời kỳ học ở trường tiểu học đã nổi tiếng học giỏi tiếng Hy Lạp, tiếng Latin và các môn: lịch sử, địa lý. Năm 1865 vào học trường Colege Charleville là một trong những học sinh xuất sắc nhất của trường. Năm 1869 lần đầu tiên in ba bài thơ viết bằng tiếng Latin Xuân đã về (Ver erat), Thiên thần và đứa bé (L’Ange et l’enfant), Jugurtha (Jugurtha). Bài thơ Jugurtha được tặng giải nhất trong một cuộc thi thơ. Năm 1870, lên 16 tuổi Rimbaud in những bài thơ đầu tiên bằng tiếng Pháp, sau đó đi du lịch lên miền bắc nước Pháp và Bỉ. Ở Paris, Arthur Rimbaud làm quen và trở thành người yêu của Paul Verlaine, làm xôn xao dư luận Paris.[1] Rimbaud tham gia Công xã Paris. Năm 1872, Verlaine bỏ gia đình cùng Rimbaud đi sang London. Khi trở về Bỉ, hai người cãi nhau, Verlaine dùng súng lục bắn Rimbaud bị thương phải vào tù 2 năm, còn Rimbaud trở về quê Charleville.

Kể từ đây cuộc đời của Rimbaud sang một trang mới, ông bỏ làm thơ hẳn và đi chu du hầu như khắp thế giới. Năm 1875 sang Đức, hết tiền phải đi bộ sang Milan (Ý), sau đó ốm nặng phải quay về Pháp. Năm 1876 sang Áo, bị trục xuất, ông quay sang Hà Lan tham gia đội quân lê dương đi sang Indonesia. Ba tuần sau theo tàu chiến Anh trở về quê, sau đó sang Đức, Đan Mạch, Thuỵ Sĩ… Từ năm 1880 ông sang các nước châu Phi (Ai Cập, Ethiopia, Yemen) buôn súng, buôn cà phê và da thú. Tháng 2 năm 1891 bị bệnh phải quay trở về Pháp, đến tháng 10 ông qua đời ở Marseille vào tuổi 37.

Mặc dù sống một cuộc đời ngắn ngủi (thời gian sáng tác lại càng ngắn) nhưng Arthur Rimbaud đã đánh dấu một mốc mới trong sự phát triển của thơ ca Pháp. Ông là người có công trong việc làm giàu ngôn ngữ, hình tượng cũng như thể loại thơ ca… Nửa cuối thế kỷ XX Arthur Rimbaud trở thành một hiện tượng văn hóa đại chúng. Hình tượng Rimbaud được thể hiện qua rất nhiều bộ phim nổi tiếng thế giới.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ Arthur Rimbaud ở Charleville
Arthur Rimbaud
  • Poésies (Thơ)
  • Le bateau ivre (Con tàu say, 1871)
  • Une Saison en Enfer (Một mùa hè ở địa ngục, 1873)
  • Illuminations (Linh cảm, 1874)
  • Lettres (Thư từ)

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Œuvres, [2 éd.], P., [1964]
  • Œuvres, P., [1966]
  • Е tiemble R. et GaucIere Y., Rimbaud, P., 1950
  • Fowlie W., Rimbaud. [A critical study], Ch. - L., [1967]
  • Gascar P., Rimbaud et la Commune, [P., 1971]; "Europe", 1973, № 529-30

Một bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Sensation
 
Par les soirs bleus d'été, j'irai dans les sentiers,
Picoté par les blés, fouler l'herbe menue :
Rêveur, j'en sentirai la fraîcheur à mes pieds.
Je laisserai le vent baigner ma tête nue.
 
Je ne parlerai pas, je ne senserai rien :
Mais l'amour infini me montera dans l'âme,
Et j'irai loin, bien loin, common un bohémien,
Par la Nature, heureux comme avec une femme.
Cảm giác
 
Buổi chiều xanh, trên những con đường nhỏ
Rảo bước chân trên hoa cỏ nhẹ nhàng
Mơ ước trong đầu, trên tóc ngọn gió
Tôi nhận ra hơi mát dưới bàn chân.
 
Không nghĩ suy, không lời trên môi lặng
Nhưng con tim yêu hết thảy trên đời
Và ngọt ngào trong hoàng hôn thơ thẩn
Thiên nhiên tựa hồ như người đẹp cùng tôi.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bernard, Suzanne and Guyaux, André. Oeuvres de Rimbaud, Classiques Garnier, Bordas, 1991. ISBN 2-04-017399-4

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]