Asanagi (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Asanagi.jpg
Tàu khu trục Asanagi vào ngày 29 tháng 12 năm 1924
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Tàu khu trục số 15
Hãng đóng tàu: Xưởng đóng tàu Fujinagata tại Osaka
Đặt lườn: 5 tháng 3 năm 1923
Hạ thủy: 21 tháng 4 năm 1924
Hoạt động: 29 tháng 12 năm 1925
Đổi tên: Tàu khu trục số 15 thành Asanagi: 1 tháng 8 năm 1928
Xóa đăng bạ: 10 tháng 7 năm 1944
Số phận: Bị tàu ngầm Mỹ đánh chìm ngày 22 tháng 5 năm 1944 cách 200 dặm phía Tây Tây Bắc Chichijima thuộc quần đảo Ogasawara; tọa độ 28°20′B 138°57′Đ / 28,333°B 138,95°Đ / 28.333; 138.950
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Kamikaze
Trọng tải choán nước: 1.400 tấn (tiêu chuẩn);
1.720 tấn (đầy tải)
Độ dài: 97,5 m (319 ft 10 in) mực nước
102,6 m (336 ft 7 in)
Sườn ngang: 9,1 m (29 ft 10 in)
Mớn nước: 2,9 m (9 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 2 × Turbine hộp số Kampon
4 × nồi hơi ống nước Ro-Gō Kampon
2 × trục
công suất 38.500 mã lực (28,7 MW)
Tốc độ: 68,3 km/h (36,88 knot)
Tầm xa: 6.700 km ở tốc độ 26 km/h
(3.600 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 168
Vũ trang: 3 × pháo 120 mm/45 caliber Kiểu 3
10 × pháo 25 mm Kiểu 96 đa dụng
4 × ống phóng ngư lôi 533 mm
16 × mìn sâu

Asanagi (tiếng Nhật: 朝凪) là một tàu khu trục hạng nhất, thuộc lớp Kamikaze của Hải quân Đế quốc Nhật Bản bao gồm chín chiếc, được chế tạo sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc. Rất hiện đại vào lúc đó, những con tàu này đã phục vụ như những tàu khu trục hàng đầu trong những năm 1930, nhưng được xem là đã lạc hậu vào lúc Chiến tranh Thái Bình Dương nổ ra.[1] Ngoài một vài trận chiến, Asanagi hầu như chỉ sử dụng trong vai trò tuần tra và hộ tống cho đến khi bị tàu ngầm Mỹ đánh chìm ngày 22 tháng 5 năm 1944 cách 200 dặm phía Tây Tây Bắc Chichijima thuộc quần đảo Ogasawara.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Việc chế tạo lớp tàu khu trục cỡ lớn Kamikaze được chấp thuận như một phần của Chương trình phát triển Hạm đội 8-4 trong năm tài chính 1921–1923 dành cho Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Thiết kế của chúng là sự tiếp nối của lớp Minekaze trước đó, vốn chia sẻ nhiều đặc tính thiết kế chung.[1] Được chế tạo tại xưởng đóng tàu FujinagataOsaka, Asanagi được đặt lườn vào ngày 5 tháng 3 năm 1923, được hạ thủy vào ngày 21 tháng 4 năm 1924 và được đưa ra hoạt động vào ngày 29 tháng 12 năm 1925.[2] Khi đưa vào hoạt động nó chỉ được gọi đơn giản là “Tàu khu trục số 15” (第十五号駆逐艦, Dai-15-Gō Kuchikukan) trước khi được đặt tên Asanagi vào ngày 1 tháng 8 năm 1928.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc xảy ra cuộc tấn công Trân Châu Cảng, Asanagi nằm trong thành phần Đội khu trục 6 của Hải đội Khu trục 29 trực thuộc Hạm đội 4 Hải quân Đế quốc Nhật Bản, đặt căn cứ tại Truk. Nó đã hỗ trợ cho lực lượng tấn công chiếm đóng quần đảo Gilbert từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 12 năm 1941, rồi sau đó được phân công vào lực lượng chiếm đóng đảo Wake lần thứ hai vào ngày 23 tháng 12.

Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1942, Asanagi hỗ trợ cho lực lượng Nhật Bản tiến hành chiếm đóng Rabaul, New BritainLae. Trong khi tuần tra ngoài khơi Lae vào ngày 10 tháng 3, nó bị hư hại trung bình bởi một cuộc không kích càn quét, và bị buộc phải quay về Xưởng hải quân Sasebo để sửa chữa vào tháng 4. Khi công việc sửa chữa hoàn tất, Asanagi hộ tống một đoàn tàu vận tải từ Sasebo đến Truk. Trong Trận chiến biển Coral vào các ngày 7-8 tháng 5 năm 1942, Asanagi được phân về lực lượng đổ bộ trong Chiến dịch Mo nhắm vào cảng Moresby.[3] Khi chiến dịch này bị hủy bỏ, nó được cho quay trở về Sasebo để sửa chữa bổ sung.[4]

Asanagi quay trở lại Rabaul vào giữa tháng 7, và được phân công bảo vệ các cuộc đổ bộ lực lượng Nhật Bản lên Buna thuộc Papua New Guinea. Trong khi tiến hành đổ quân lên Buna, Asanagi bị hư hại bởi một dãi san hô ngầm trong khi đang cơ động né tránh một cuộc không kích, và bị buộc phải quay về Xưởng hải quân Yokosuka để sửa chữa. Nó trải qua giai đoạn từ tháng 9 đến tháng 11 năm 1943 thực hiện nhiệm vụ tuần tra tại khu vực Trung tâm Thái Bình Dương, và hộ tống các đoàn tàu vận tải đi lại giữa Truk, Rabaul và chính quốc Nhật Bản.

Vào năm 1944, Asanagi hộ tống cho nhiều đoàn tàu vận tải đi lại giữa Yokosuka, Truk, quần đảo Ogasawaraquần đảo Mariana. Trong chuyến đi từ Saipan quay trở về Nhật Bản vào ngày 20 tháng 5 năm 1944, Asanagi trúng phải ngư lôi phóng từ tàu ngầm Mỹ USS Pollack và bị chìm ở cách 320 km (200 dặm) về phía Tây Tây Bắc Chichijima thuộc quần đảo Ogasawara ở tọa độ 28°20′B 138°57′Đ / 28,333°B 138,95°Đ / 28.333; 138.950Tọa độ: 28°20′B 138°57′Đ / 28,333°B 138,95°Đ / 28.333; 138.950.[5]

Asanagi được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 10 tháng 7 năm 1944.[2]

Danh sách thuyền trưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Howarth, The Fighting Ships of the Rising Sun
  2. ^ a ă Nishidah, Hiroshi (2002). “Kamikaze class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 
  3. ^ Morison. Coral Sea, Midway and Submarine Actions
  4. ^ Nevitt, Allyn D. (1997). “IJN Asanagi: Tabular Record of Movement”. Long Lancers. Combinedfleet.com. 
  5. ^ Brown. Warship Losses of World War Two

Sách[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Dull, Paul S. (1978). A Battle History of the Imperial Japanese Navy, 1941-1945. Naval Institute Press. ISBN 0-87021-097-1. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0-689-11402-8. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 0-87021-893-X. 
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1-85409-521-8. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]