Asmara
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
| Asmara ኣስመራ Asmera, أسمرة Asmara |
|||
| Cảnh Asmara | |||
|
|||
| Map of Asmara in Eritrea | |||
| Tọa độ: 15°20′B 38°56′Đ / 15,333°B 38,933°Đ | |||
|---|---|---|---|
| Quốc gia | Eritrea | ||
| Vùng | Vùng Maekel | ||
| Chính quyền | |||
| - Thị trưởng của Asmara | Semere Russom | ||
| - Thị trưởn của Zoba | Tewelde Kelati | ||
| Diện tích | |||
| - Đất liền | 12.158,1 km² (4.694,3 mi²) | ||
| Độ cao | 2.325 m (7.628 ft) | ||
| Dân số (2009)[1] | |||
| - Tổng cộng | 649.000 | ||
| - Mật độ | 53,38/km² (138,3/mi²) | ||
| Múi giờ | EAT (UTC+3) | ||
Asmara hay Āsmera, là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Eritrea. Thành phố toạ lạc trên một cao nguyên gần cảng Massawa bên Hồng Hải. Thành phố này là một trung tâm đường sắt và đường bộ quan trọng dựa vào cảng Massawa. Các ngành công nghiệp của thành phố có: thuộc da, các nhà máy bột mỳ, chế biến rau quả, sản xuất nước hoa, kính, gạch. Một nhà máy thủy điện và các mỏ đồng và vàng nằm gần thành phố này. Thành phố có Đại học Asmara (1954). Asmara thay thế Massawa làm thủ đô của Eritrea vào năm 1900, khi Eritrea là một thuộc địa của Italia. Eritrea vào liên bang với Ethiopia năm 1952. Khi Eritrea độc lập năm 1993, Asmara lại trở thành thủ đô.
Tham khảo[sửa]
- ^ “CIA - The World Factbook”. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2011.
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Asmara |