Asobi ni Ikuyo!

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Asobi ni iku yo!
Asobi ni Ikuyo! DVD cover.jpg
あそびにいくヨ!
Thể loại Khoa học viễn tưởng, lãng mạn, hài hước
Light novel
Tác giả Kamino Okina
Minh họa
  • Eizō Hōden (vol.1–14)
  • Nishieda (vol.15)
Nhà xuất bản Media Factory
Đối tượng Nam
Ấn hiệu MF Bunko J
Phát hành Ngày 25 tháng 10 năm 2003 – nay
Số tập 18
Trò chơi
Asobi ni Iku yo! ~Chikyuu Pinchi no Konyaku Sengen~
Phát triển Idea Factory
Thể loại Visual novel
Hệ máy PlayStation 2
Phát hành
  • NB 27 tháng 7, 2006
Manga
Tác giả Kamino Okina
Minh họa 888
Nhà xuất bản Media Factory
Đối tượng Seinen
Tạp chí Monthly Comic Alive
Phát hành Ngày 26 tháng 8 năm 2006 – nay
Số tập 8
TV anime
Đạo diễn Ueda Youichi
Hãng phim AIC PLUS+
Cấp phép CanadaHoa Kỳ Funimation Entertainment
Kênh MBS, AT-X, Chiba TV, TV Kanagawa, TV Aichi, TV Saitama, Ryukyu Asahi Broadcasting
Phát sóng Ngày 10 tháng 7 năm 2010Ngày 25 tháng 9 năm 2010
Số tập 12
OVA
Đạo diễn Ueda Youichi
Hãng phim AIC PLUS+
Cấp phép Canada Hoa Kỳ Funimation Entertainment
Phát hành Ngày 15 tháng 5 năm 2011
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

Asobi ni Ikuyo! (あそびにいくヨ!) là bộ light novel viết bởi Kamino Okina và minh họa bởi Eizō Hōden và Nishieda. Loạt tiểu thuyết này đã được phát hành trực tiếp thành các tập dưới nhãn MF Bunko J của Media Factory. Cốt truyện xoay quanh Kakazu Kio một nam sinh trung học khá bình thường cho đến khi cô gái tên Eris người ngoài hành tinh có tai cũng như đuôi giống mèo xuất hiện và biến cả ngôi nhà của cậu thành lãnh sự quán để thiết lập mối quan hệ giữa chủng tộc của cô và Trái Đất. Cuộc sống của Kakazu trở nên sôi động hơn khi các phe phái muốn bài xích người ngoài hành tinh cũng như các lực lượng giấu mặt kể cả một chủng tộc người ngoài hành tinh khác muốn bắt cóc Eris để chủng tộc của cô không thể thiết lập được mối quan hệ với Trái Đất vì thế Kakazu và các bạn của mình trong thành phố đã cùng nhau bảo vệ cô chống lại các mối nguy hiểm này. Cũng như qua các cuộc phiêu lưu các tình cảm giữa các nhân vật cũng bắt đầu hình thành.

Bộ tiểu thuyết đã được chuyển thể thành nhiều loại hình truyền thông khác như một trò chơi điện tử có tựa Asobi ni Iku yo! ~Chikyuu Pinchi no Konyaku Sengen~ (あそびにいくヨ!~ちきゅうぴんちのこんやくせんげん~) đã phát hành vào ngày 27 tháng 6 năm 2006. Chuyển thể drama CD cũng đã được phát hành. Một loạt manga cũng do Kamino Okina thực hiện và đăng trên tạp chí Monthly Comic Alive của Media Factory từ ngày 26 tháng 8 năm 2006. AIC PLUS+ đã thực hiện chuyển thể anime của và phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 10 tháng 7 đến ngày 25 tháng 9 năm 2010. Một tập OVA cũng đã được thực hiện và phát hành khi phát hành phiên bản DVD/BD của bộ anime.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ lược cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Kakazu Kio (嘉和 騎央, かかず きお)
Lồng tiếng bởi: Tamura Mutsumi/Sanpei Yuuko (drama CD)
Eris (エリス)
Lồng tiếng bởi: Itō Kanae/Kawasumi Ayako (drama CD)
Futaba Aoi (双葉 アオイ, ふたば アオイ)
Lồng tiếng bởi: Hanazawa Kana/Noto Mamiko (drama CD)
Kinjō Manami (金武城 真奈美, きんじょう まなみ)
Lồng tiếng bởi: Tomatsu Haruka/Toyoguchi Megumi (drama CD)

Con người[sửa | sửa mã nguồn]

Antonia (アントニア)
Lồng tiếng bởi: Nomizu Iori/Saito Ayaka (drama CD)
Maya (摩耶, まや)
Lồng tiếng bởi: Ishizuka Sayori/Kobayashi Sanae (drama CD)
Sara (サラ)
Lồng tiếng bởi: Watanabe Akeno/Sato Yuko (drama CD)
Nishihara Yuki (西原 ゆき, にしはら ゆき)
Gia tộc Yoshikazu[sửa | sửa mã nguồn]
Miyagi Yūichi (宮城 雄一, みやぎ ゆういち)
Lồng tiếng bởi: Tachiki Fumihiko/Okiayu Ryotaro (drama CD)
Nabe, Ushi, Kamado (ナベ、ウシ、カマド)
Gia đình Futaba[sửa | sửa mã nguồn]
Futaba Jinjūrō (双葉 陣十郎, ふたば じんじゅうろう)
Futaba Orie (双葉 オリエ, ふたば オリエ)
Tachikawa Ryūsuke (多知川 隆介, たちかわ りゅうすけ)
Câu lạc bộ quay phim[sửa | sửa mã nguồn]
Itokazu Maki (糸嘉州 マキ, いとかず マキ)
Lồng tiếng bởi: Hirata Hiromi/Chiba Saeko (drama CD)
Buchō (部長, ぶちょう) / Nakamura Sōken (なかむら そうけん)
Lồng tiếng bởi: Keigo Manaka
Fukuhara Satoshi (普久原 聡, ふくはら さとし)
Lồng tiếng bởi: Kasuya Yuta
Ishimine Aiko (石嶺 愛子, いしみね あいこ)
Lồng tiếng bởi: Sendai Eri
Ōshiro Arisa (大城 アリサ, おおしろ アリサ)
Lồng tiếng bởi: Aizawa Mai
Kawasaki Takao (河崎 貴雄, かわさき たかお)
Lồng tiếng bởi: Nagasako Takashi/Nomura Kenji (drama CD)
Ichika Studio[sửa | sửa mã nguồn]
Ichika (いちか)
Lồng tiếng bởi: Takagaki Ayahi/Kawakami Tomoko (drama CD)
Zukeran Tabito (瑞慶覧 旅人, ずけらん たびと)
Arrow (アロウ)
Kosuzu (虎鈴, こすず)
Điệp viên quân sự[sửa | sửa mã nguồn]
Janis Alectos Carotenas Karinato (ジャニス・アレクトス・カロティナス・カリナート) / JACK (ジャック)
Lồng tiếng bởi: Monden Yukiko
Endō (淵東, えんどう)
Lồng tiếng bởi: Suzumori Kanji/Horika Wajin
Yuma Kyōka (弓真 鏡華, ゆま きょうか)
Lawton Hines (ロートン・ハインズ)
George・B・Whitman (ジョージ・B・ホイットマン)
Tony Grimm den Baum (トニー・グリムデンバウム)
Rose Marie Marusoya (ローズマリー・マルソーヤ) / Burning Rose (バーニングローズ)
Alicia Maria Yorkshire (アリシア・マリア・ヨークシャー)
Khác[sửa | sửa mã nguồn]
Dōji Yutsushi (道術士, どうじゅつし)
Mahiro (真尋, まひろ)

Catia[sửa | sửa mã nguồn]

Chayka (チャイカ)
Lồng tiếng bởi: Kotobuki Minako/Takagi Reiko (drama CD)
Qoone (クーネ)
Lồng tiếng bởi: Inoue Kikuko/Nakao Eri (drama CD)
Melwin (メルウィン)
Lồng tiếng bởi: Toyosaki Aki/Iguchi Yuka (drama CD)
Durel (デュレル)
Lồng tiếng bởi: Shindō Naomi/Ito Shizuka (drama CD)
Seshimi (セシミ)
Cerca (セルカ)
Nakuto (ナクト)
Reima (レイーマ)
Rama (ラーマ)
Ellis no Ryōshin (エリスの両親)
Arukāmatsu (アルカーマツ)
Arurieru (アルリエル)

Dogisia[sửa | sửa mã nguồn]

Janes (ジェンス)
Lồng tiếng bởi: Horie Yui/Watanabe Akeno (drama CD)
Ryunnu (リュンヌ)
Taisa (大佐, たいさ)
Taii (大尉, たいい)

Barunmū[sửa | sửa mã nguồn]

Nirumea (ニルメア)

Garblian[sửa | sửa mã nguồn]

Sawori (サヲリ)
Rauvua (ラウヴァ)

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Aura (アウラ)

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ light novel được viết bởi Kamino Okina và minh họa bởi Eizō Hōden và Nishieda. Loạt tiểu thuyết này đã được phát hành trực tiếp thành các tập bunkobon dưới nhãn MF Bunko J của Media Factory từ ngày 25 tháng 10 năm 2003. Tính đến tháng 2 năm 2014 thì đã có 18 tập được phát hành. Eizō Hōden chịu trách nhiệm minh họa 14 tập đầu còn Nishieda thì bắt đầu minh họa tập thứ 15.

Drama CD[sửa | sửa mã nguồn]

Geneon Entertainment đã phát hành một loạt drama CD gồm 4 đĩa từ ngày 22 tháng 2 năm 2006 đến ngày 24 tháng 8 năm 2007.

Trò chơi điện tử[sửa | sửa mã nguồn]

Idea Factory đã phát hành một trò chơi điện tử có tên Asobi ni Iku yo! ~Chikyuu Pinchi no Konyaku Sengen~ (あそびにいくヨ!~ちきゅうぴんちのこんやくせんげん~) vào ngày 27 tháng 6 năm 2006 thuộc thể loại visual novel cho hệ máy PlayStation 2.

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Kamino Okina cũng đã thực hiện chuyển thể manga của bộ tiểu thuyết và người có nghệ danh 888 lo việc minh họa, loạt manga bắt đầu đăng trên tạp chí dành cho seinenMonthly Comic Alive của Media Factory từ ngày 26 tháng 8 năm 2006. Media Factory sau đó đã tập hợp các chương lại để phát hành thành các tankōbon, tính đến tháng 7 năm 2012 thì đã có 8 tập được phát hành.

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

AIC PLUS+ đã thực hiện chuyển thể anime của bộ tiếu thuyết và phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 10 tháng 7 đến ngày 25 tháng 9 năm 2010 với 12 tập. Một tập OVA cũng đã được thực hiện và phát hành khi phát hành phiên bản DVD/BD của bộ anime. Funimation Entertainment đã đăng ký bản quyền phiên bản tiếng Anh của bộ anime để tiến hành phân phối tại thị trường Bắc Mỹ còn Madman Entertainment thì đăng ký tại Úc.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ anime có 7 bài hát chủ đề với 1 bài hát mở đầu và 6 bài hát kết thúc. Bài hát mở đầu là bài Now loading...SKY!! do Sphere trình bày, bài hát này còn được dùng làm bài hát kết thúc cho tập 2, đĩa đơn chứa bài hát này đã phát vào ngày 28 tháng 7 năm 2010 với hai phiên bản giới hạn và bình thường, bản giới hạn có đính kèm một DVD chứa đoạn phim trình bày nhạc phẩm. Bài hát kết thúc thứ nhất là bài Kokoro no Madobe nite (心の窓辺にて) do Hanazawa Kana trình bày dùng trong các tập 1, 5 và 8. Bài hát kết thúc thứ hai là bài Omoide ga Jama o Suru (想い出がジャマをする) do Tomatsu Haruka trình bày dùng trong các tập 3, 6 và 10. Bài hát mở đầu thứ ba là bài Happy Sunshine do Itō Kanae trình bày dùng trong các tập 4, 7 và 11. Ba đĩa đơn chứa ba bài hát này đã phát hành vào ngày 11 tháng 8 năm 2010. Bài hát kết thúc thứ tư là bài Oira wa Sabishii Spaceman (おいらは淋しいスペースマン) trình bày bởi Chihara Minori dùng trong tập 9, bài hát này được phát hành chung với album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime vào ngày 22 tháng 9 năm 2010. Bài hát kết thúc cuối là bài Smile☆Peace do Itō Kanae, Tomatsu HarukaHanazawa Kana cùng trình bày dùng cho tập 12 của bộ anime, bài hát này đã phát hành chung với album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày vào ngày 08 tháng 9 năm 2010, album này cũng chứa các đoạn drama ngắn.

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]