Atlantis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bản đồ 1882 chỉ vị trí của Atlantis
Ảnh vệ tinh của quần đảo Santorini. Nơi này thường được cho là địa điểm của Atlantis.

Ngày nay có rất nhiều giả thuyết về lục địa Atlantis (tiếng Hy Lạp, Ἀτλαντὶς νῆσος, "đảo Atlas"). Lục địa Atlantis từ lâu đã thu hút được sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học trên toàn thế giới. Dựa trên những tài liệu đáng tin cậy, người ta đã xây dựng rất nhiều những giả thuyết khác nhau về lục địa này.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Atlantis của Plato[sửa | sửa mã nguồn]

Mặc dù Atlantis được xem là đạt tới đỉnh cao vinh quang hơn 11 nghìn năm trước, nhưng nó chỉ xuất hiện trong thư tịch khoảng 2.350 năm trước, từ 359 đến 347 năm trước Công nguyên. Cái tên đầy gợi cảm Atlantis xuất hiện trong các cuộc đối thoại của nhà triết học Hy Lạp cổ đại lừng danh Plato, TimaeusCritias, vốn được đặt theo tên các nhân vật trong hai cuộc trao đổi tưởng tượng giữa Socrates và học trò. Mở đầu phần đối thoại Timaeus, Socrates nhắc tới cuộc thảo luận hôm trước về một xã hội "hoàn thiện". Ở đây Plato nhắc tới cuộc đối thoại nổi tiếng nhất của ông, Nền cộng hòa, mà ông đã viết từ nhiều năm trước. Và Plato mượn lời Socrates để kể ra hàng loạt đặc điểm cần có của một chính phủ hoàn hảo mà ông đã mường tượng trong Nền cộng hòa: thợ thủ công và nông dân tách khỏi quân đội; quân nhân kỷ luật cao, được huấn luyện thể lực và âm nhạc, sống cộng đồng và không có tài sản riêng.

Trong những đối thoại mang tên TimaeusCritias, được Plato viết vào năm 360 trước Công nguyên, có chứa các tài liệu tham khảo sớm nhất về Atlantis. Không hiểu vì lý gì mà Plato không bao giờ hoàn thành tác phẩm Critias. Ông giới thiệu Atlantis trong Timaeus như sau:

"Trong những tư liệu của chúng ta, vào thời xa xưa, Nhà nước của chúng ta đã ở một trạng thái tổ chức hùng mạnh, bắt đầu tại một địa điểm rất xa ở Đại Tây Dương, đã bắt đầu tấn công chinh phục và nghiền nát toàn bộ châu Âuchâu Á. Nơi đó đại dương yên bình rất thuận lợi cho tàu thuyền đi lại, nơi đó ở ngay phía trước những hang rất lớn mà người Hy Lạp chúng ta gọi là "những cột đá của Heracles", nơi đó có một hòn đảo lớn hơn xứ Libya và châu Á cộng lại; các nhà lữ hành có thể băng xuyên qua nó để đến các hòn đảo khác, và từ những hòn đảo đi đến tất cả các lục địa xung quanh nó, bao gồm đại dương đã được đặt tên. Với tất cả những gì chúng ta có ở đây, trong những gì miệng chúng ta nói ra, nó rõ ràng là một thiên đường với một lối vào hẹp; nhưng đằng kia là một đại dương thực sự, và đất đai xung quanh nó được đặt tên một cách chính xác nhất, trong ý nghĩa đầy đủ và xác thực nhất, nó là một lục địa. Giờ đây, trong hòn đảo Atlantis tồn tại một liên minh của các vị vua, quyền lực tuyệt vời và nhiệm màu, thống trị tất cả các hòn đảo, trên nhiều hòn đảo khác và một phần của lục địa".

Bốn người xuất hiện trong hai cuộc đối thoại là hai chính trị gia Critias và Hermocrates và hai triết gia Socrates và Timaeus xứ Locri, mặc dù chỉ một mình Critias nói về Atlantis trong đối thoại này. Nhiều luận cứ chứng minh rằng những nhân vật trong đối thoại này thực sự tồn tại, những đối thoại này, được viết dưới dạng ghi chép lại, thuần túy là sản phẩm của Plato. Trong tác phẩm của mình, Plato thường mở rộng việc sử dụng các đối thoại của Socrates để thảo luận về các trạng thái đối lập trong bối cảnh của một giả thiết.

Timaeus bắt đầu với lời giới thiệu, tiếp theo là một sự miêu tả những sáng tạo và cấu trúc của vũ trụ và các nền văn minh cổ đại. Trong phần giới thiệu, Socrates trầm ngâm về xã hội hoàn hảo, được mô tả trong tác phẩm Cộng hòa (Plato) (viết năm 380 Tcn), và tự hỏi nếu ông và các vị khách của ông có thể nhớ lại một câu chuyện minh họa cho một xã hội như vậy. Critias đề cập đến một câu chuyện được mang tính lịch sử mà có thể làm ví dụ hoàn hảo, và sau đó là những miêu tả về Atlantis theo các luận cứ của Critias. Trong miêu tả của Critias, Athens cổ đại dường như được đại diện cho "xã hội hoàn hảo" và Atlantis đối thủ của nó, đại diện đối nghịch của những đặc điểm "hoàn hảo" được mô tả tại Cộng hòa. Critias tuyên bố rằng miêu tả về Athens cổ đại và Atlantis xuất phát từ một chuyến thăm tới Ai Cập của nhà lập pháp huyền thoại của Athens là Solon trong thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Tại Ai Cập, Solon đã gặp một tu sĩ của Sai, người dịch lịch sử của Athens cổ đại và Atlantis, chuyển ngữ những gì được ghi trên giấy cói (giấy papyrus) bằng chữ tượng hình Ai Cập, sang tiếng Hy Lạp. Theo sử gia Plutarch, Solon đã hội ngộ với "Psenophis của thành Heliopolis, và Sonchis của thành Sai, và đã học được kiến thức của tất cả các tu sĩ"; Plutarch đề cập ở đây với các sự kiện xảy ra bảy thế kỷ trước khi ông viết về họ.

Theo Critias, các vị thần Hy Lạp xưa kia đã phân chia trái đất để mỗi thần có thể sở hữu được nhiều nhất; Poseidon được khá nhiều ưu tiên, và theo sở thích của mình, ông được giao sở hữu đảo Atlantis. Hòn đảo lớn hơn Libya cổ và Tiểu Á cộng lại; nhưng sau đó, hòn đảo đã bị chìm bởi một trận động đất và trở thành một bãi bùn không thể đi qua, cản trở việc đi lại đến bất kỳ phần nào của đại dương. Plato khẳng định người Ai Cập đã mô tả Atlantis là một hòn đảo bao gồm chủ yếu là dãy núi ở phần lãnh thổ phía bắc và dọc theo bờ biển, và bao gồm một đồng bằng lớn với hình dạng chữ nhật ở phía nam "kéo dài liên tục 3000 stadia (khoảng 555 km, tức 345 dặm), ngoại trừ phần trung tâm nội địa 2000 stadia (khoảng 370 km, tức 230 dặm). Năm mươi stadia (9 km, khoảng 6 dặm) từ bờ biển là một ngọn núi thấp đều theo các hướng... đứt gãy theo dạng hình tròn… hòn đảo trung tâm có đường kính khoảng 5 stades (khoảng 0,92 km; 0,57 dặm).

Trong huyền thoại của Plato, Poseidon đem lòng yêu Cleito, con gái của Evenor và Leucippe, người sinh ra năm cặp sinh đôi nam. Người lớn nhất trong số này là Atlas, được làm vua hợp pháp của toàn bộ hòn đảo và đại dương (gọi là Atlantic – Đại Tây Dương, để vinh danh ông), khi ông sinh ra đã được tặng những ngọn núi và những khu vực xung quanh như là thái ấp của mình. Người sinh đôi với Atlas là Gadeirus, hay Eumelus trong tiếng Hy Lạp, đã đem hòn đảo này đối lập hoàn toàn với các cột đá của Hercules. Bốn khác cặp anh em sinh đôi khác là Ampheres và Evaemon, Mneseus và Autochthon, Elasippus và Mestor, và Azaes và Diaprepes – được cũng được trao quyền "cai trị nhiều người và vùng lãnh thổ lớn".

Poseidon đã tạc núi, thứ mà ông yêu quý, thành một cung điện và kèm theo nó là ba vòng tường hào hình tròn với chiều rộng tăng dần, hơn nhau từ một đến ba stadia và ngăn cách bởi các vòng đất có kích thước tỷ lệ. Người Atlantis sau đó xây dựng những cây cầu về phía bắc từ núi, hình thành một tuyến đường nối với phần còn lại của hòn đảo. Họ đào một con kênh lớn ra biển, và cùng với những đường hầm được đục khắc các cây cầu vào những vòng tròn của đá để tàu có thể đi vào thành phố xung quanh núi, họ đục khắc bến tàu từ các bức tường đá của tường thành. Mỗi đoạn thành phố được bảo vệ bởi cửa và tháp, và một bức tường bao quanh mỗi vòng của thành phố. Các bức tường được xây dựng từ những mỏ đá đỏ, trắng và đen từ những vòng tường hào, và được phủ tương ứng theo thứ tự bằng thiếc, đồng và kim loại quý Orichalcum.

Theo Critias, 9.000 năm trước khi ông sinh ra, một cuộc chiến tranh đã diễn ra giữa những người bên ngoài các cột đá của Hercules ở eo biển Gibraltar và những người ở bên trong chúng. Người Atlantis đã chinh phạt các lãnh thổ của Libya bên trong các cột đá của Hercules, cũng như xa hơn về phía Ai Cập, lục địa châu Âu, và cả Tyrrhenia, và bắt những kẻ bại trận trở thành nô lệ. Người Athens đã dẫn đầu một liên minh chống lại đế chế của người Atlantis, và khi liên minh tan rã, họ đã một mình chống lại đế chế Atlantis để giải phóng các vùng đất bị chiếm đóng.

"Nhưng một thời gian sau đó đã xảy ra động đất và lũ lụt như điềm báo, và một ngày và đêm đau thương xảy đến khi toàn bộ cơ thể của các chiến binh Atlantis bị nuốt chửng bởi mặt đất, và đảo của Atlantis bị nuốt chửng bởi biển cả và biến mất; vậy nên đại dương tại vị trí đó không thể đi qua và không được tìm thấy, bị chặn bởi bùn lầy mà nhờ đó hòn đảo đã tạo ra sự định cư trước đây".

Nhà sử học Hellanicus xứ Lesbos đã viết một công trình trước đây có tên Atlantis, ngày này chỉ còn một vài tảng văn còn sót lại. Hellanicus đã viết về một phả hệ liên quan đến con cháu của Atlas (Ἀτλαντὶς trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là "của Atlas"), nhưng một số tác giả đã đề xuất một các phân tích khả dĩ liên quan đến hòn đảo của Plato. John V. Luce ghi chú rằng khi Hellanicus viết về gia phả những vị vua của Atlantis thì có những nét tương đồng với phong cách viết của Plato và điều đó gợi ý một mối quan hệ giữa những luận giải của Hellanicus với miêu tả trong đối thoại Critias. Robert Castleden phân tích rằng Plato có thể đã vay mượn chủ đề tác phẩm từ những luận giải của Hellanicus, và bản thân Hellanicus cũng có thể đã dựa trên những khảo cứu trước đó về Atlantis.

Tranh vẽ thuyền trưởng Nemo đứng ngắm di tích dưới đáy biển

Atlantis trong khảo cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ đô của Atlantis thực sự là một kỳ quan kiến trúc và công trình xây dựng kỳ vĩ bao gồm những bức tường thành và kênh đào hình tròn đồng tâm. Ở trung tâm thành phố là một quả đồi lớn, trên đỉnh đồi là nơi đặt đền thờ Poseidon. Bên trong đền chính là bức tượng Thần biển bằng vàng đang cưỡi ngựa thần sáu cánh. Và khoảng 9.000 năm trước thời của Plato, sau khi vương quốc Atlantis suy tàn, các vị thần quyết định phá huỷ lục địa này bằng một trận động đất khủng khiếp với những cơn sóng thần nhấn chìm toàn bộ những công trình và nền văn minh Atlantis xuống đáy biển. Atlantis như tưởng tượng của thời hiện đại.

Không cuộc tranh luận nào về Atlantis được xem là đầy đủ nếu không nhắc tới những tuyên bố mang tính tưởng tượng trong thế kỷ XIX và XX về lục địa đã mất tích. Hơn bất cứ ai, nghị sĩ bang Minnesota Ignatius Donnelly, người đã hai lần thất bại trong cuộc chạy đua vào chức phó tổng thổng Mỹ và là một nhà sử học nghiệp dư, đã làm huyền thoại sống lại bằng cuốn sách Atlantis: một thế giới trước thời hồng thủy vào năm 1881.

Theo Donnelly, Atlantis của Plato là ngọn nguồn của mọi thành tựu văn hóa và mọi nền văn minh tại Ai Cập, Tây Á, Ấn Độchâu Âu, cũng như Nam và Bắc Mỹ. Lập luận của Donnelly không dựa trên khoa khảo cổ hay địa lý và không hề có bằng chứng nào về nguồn gốc chung của mọi nền văn hóa. Tuy nhiên so với một số nhà tư tưởng cuối thế kỷ XIX khác, Donnelly vẫn là khuôn mẫu của sự tự kiềm chế.

Phong trào Theosophy (thần triết học) của Helena Blavatsky, một phụ nữ gọi hồn "nổi tiếng" nước Mỹ, giả thuyết rằng cư dân Atlantis di chuyển bằng máy bay và trồng trọt hoa lợi thu được từ người ngoài hành tinh. Gần đây hơn, các nhà tâm linh thế kỷ XX tuyên bố tiếp xúc được với các linh hồn từ lục địa đã mất tích và được họ khuyên nhiều điều hay để giải quyết những bế tắc của cuộc sống hiện đại. Tất nhiên không thể có bằng chứng ủng hộ những tuyên bố huyễn hoặc như thế.

Những năm cuối thế kỉ 20 tác giả Stephen Oppenheimer đã chứng minh trong cuốn "Địa đàng phương đông" cái nôi của nền văn minh loài người ở vùng Đông Nam Á. Thành phố cổ mất tích Atlantis và cơn đại hồng thủy chỉ là một truyền thuyết mà người dân vùng Đông Nam Á cổ đại mang theo đi khắp thế giới sau thảm họa. Thảm họa này diễn ra vào cuối kỷ băng hà cách nay khoảng 11.000 năm đã nhấn chìm hơn một nửa lục địa Đông Nam Á mà ngày nay gọi là thềm lục địa Sudan. Dò theo lý thuyết của Oppenheimer gần đây các nhà khảo cổ Nhật Bản đã tìm được kim tự tháp Yonaguni tại vùng biển sâu phía bắc Đài Loan. Tóm lại,lục địa Atlantis của Plato chính là nền văn minh Đông Nam Á cổ xưa đã bị chìm ngập dưới đáy biển khi nước biển dâng do băng tan trong ky băng hà cuối cùng.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]