Bà mẹ Việt Nam anh hùng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bà mẹ Việt Nam anh hùng là danh hiệu mà nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tặng hoặc truy tặng những phụ nữ Việt Nam có nhiều cống hiến, hi sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế. Danh hiệu này được ban hành theo pháp lệnh Quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước ngày 29 tháng 8 năm 1994 [1]và pháp lệnh sửa đổi bổ sung số 05/2012/UBTVQH13 ngày 20/10/2012 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Và được quy định trong Luật Thi đua khen thưởng năm 2003

Tiêu chuẩn[sửa | sửa mã nguồn]

Tiêu chuẩn đạt danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" (kể cả là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam) dành cho những phụ nữ đạt một trong những tiêu chuẩn sau:

  • Có hai con trở lên là liệt sĩ
  • Có hai con mà một con là liệt sĩ, một con là thương binh với thương tật từ 81% trở lên.
  • Chỉ có một con mà người đó là liệt sĩ;
  • Có một con là liệt sĩ, chồng hoặc bản thân là liệt sĩ.

Người con là liệt sĩ bao gồm con đẻ và con nuôi của Bà mẹ được phát luật thừa nhận, và đã được Chính phủ tặng Bằng Tổ Quốc Ghi Công .

Bà mẹ có đủ 1 trong 4 trường hợp nêu trên do phải chịu đựng nỗi đau mất con, mất chồng mà bị bệnh tâm thần, vẫn được tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng"

Người chồng là liệt sĩ nói ở trên đây là người đã được Chính phủ tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" mà Bà mẹ là vợ của người đó được hưởng chế độ tuất liệt sĩ. Danh hiệu do chủ tịch nước kí tặng hoặc truy tặng theo đề nghị của chính phủ Việt Nam. Người được tặng (truy tặng) được cấp bằng và huy chương Bà mẹ Việt Nam anh hùng.

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 12 năm 1994 đến hết năm 2001, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã phong tặng và truy tặng danh hiệu cao quý “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho:

  • Cả nước: 44.253 người[2]
    • Miền Bắc: 15.033 người
    • Miền Nam: 29.220 người

Trong đó:

  • có con độc nhất là liệt sĩ: 9.903 người
  • có 2 con mà cả 2 con đều là liệt sĩ: 1.535 người
  • có 3 con là liệt sĩ: 10.067 người
  • có 4 con là liệt sĩ: 1.535 người
  • có 5 con là liệt sĩ: 258 người

Một số phụ nữ tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

Một số bà mẹ Việt Nam anh hùng tiêu biểu[3]:

  1. Nguyễn Thị Thứ: quê quán thôn Thanh Quýt - Điện Thắng - Điện Bàn - Quảng Nam, có 9 con và 1 con rể, 2 cháu ngoại là liệt sĩ
  2. Phạm Thị Ngư: quê quán Hàm Hiệp - Hàm Thuận - Bình Thuận, có 8 con là liệt sĩ, bản thân bà là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
  3. Trần Thị Mít: quê quán Hải Phú - Hải Lǎng - Quảng Trị, có 9 con là liệt sĩ
  4. Nguyễn Thị Rành: ấp Trúc Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, có 8 con là liệt sĩ, bản thân bà là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
  5. Lê Thị Tự: quê quán Thanh Quýt - Điện Thắng - Điện Bàn - Quảng Nam Đà Nẵng, có 9 con là liệt sĩ (bà có 12 con)
  6. Phạm Thị Khánh: quê quán Hòn Đất - Kiên Giang, có 7 con trai là liệt sĩ (bà có 8 con)
  7. Vǎn Thị Thừa: quê quán Duy Xuyên - Quảng Nam Đà Nẵng có chồng và 4 con là liệt sĩ, bản thân bà là anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân
  8. Mẹ là Hồ Thị Hạnh và con gái là Trần Thị Thêu: quê quán Ấp Hưng Hoà - Phiến Cầu - Trà Vinh; trong gia đình có 10 người con là liệt sĩ
  9. Hai chị em Nguyễn Thị Dương, Nguyễn Thị Lạnh, nơi ở 12A Lý Nam Đế và 7/30 Lý Nam Đế - Hà Nội; bà Dương có 8 con thì 5 con là liệt sĩ, bà Lạnh có một con duy nhất là liệt sĩ
  10. Ba chị em ruột Bùi Thị Hai, Bùi Thị Dị, Bùi Thị Sáu ở Hàm Chính - Hàm Thuận - Bình Thuận. Bà Hai có chồng và 4 con là liệt sĩ; bà Dị có 3 con là liệt sĩ; bà Sáu có 4 con là liệt sĩ.
  11. Lê Thị Cháu (tên thật là Lê Thị Lý), dân làng quen gọi là ông bà Diêu Cháu quê ở làng Mai Xá (Gio Mai, Gio Linh, Quảng Trị), chính là người mẹ quặn lòng nuốt hận mang thúng đi lấy đầu con bị giặc Pháp chặt rồi bêu giữa chợ về khâm liệm, mai táng, được nhạc sĩ Phạm Duy ca ngợi trong ca khúc cách mạng "Bà mẹ Gio Linh"[4][5].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]