Bát nhiệt địa ngục

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bát nhiệt địa ngục (zh. bārè dìyù 八熱地獄, sa. aṣṭoṣaṇanaraka, ja. hachinetsu jigoku) hay bát đại địa ngục (八大地獄), là một khái niệm trong Phật giáo chỉ tám địa ngục nóng. Cộng 8 khám lớn, mỗi khám đều có 16 Địa ngục nhỏ để hành tội, còn có thêm Huyết Ô TrìUổng Tử Thành. Cộng lại lớn nhỏ có 138 Địa ngục. Càng những ngục sau thì đau khổ càng tăng, ứng với tội lỗi càng lớn.

Nơi nhận lãnh báo ứng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Địa Ngục Du Ký, Phật Tế Công được Ngọc Hoàng Thượng đế phán truyền:

Trẫm ở điện Linh Tiêu, lòng lo thế đạo, mắt nhìn bụi đỏ cát đen bay ngợp Trời, chốn nhân gian luân thường đảo lộn, nam không trung hiếu, nữ chẳng tiết trinh, cho Tiên Phật là hão huyền, cho Thần Thánh là chẳng thiêng, phong tục tập quán xã hội thì đồi bại, nhân tình nghĩa lí tiêu tan. Lòng Trẫm đau buồn quá đỗi, không nỡ ngồi yên nhìn chúng sinh đọa đày chốn tối tăm mà không cứu. Nay Trẫm đặc biệt ban lệnh khai mở kho báu kinh điển, mà tên sách là Địa Ngục Du Kí ra lệnh cho Phật Sống Tế Công chỉ dẫn cặn kẽ cho thuật giả thánh bút Dương Sinh dạo Mười điện địa ngục rồi về kể lại tỉ mỉ sự tình cho người đời rõ những thảm cảnh của các linh hồn tội lỗi hầu gặt hái công phu khuyên can giáo hóa.

Nhớ thuở hỗn mang Trời Đất chưa chia, vũ trụ còn chung một khí, ban đầu hút khí từ vô cực, tiêu dao tự tại. Tới khi Trời Đất mở mang, nhờ chân khí của trung ương con người giáng sinh. Ban đầu tính nó thiện nên lúc chết dễ trở về nơi chất phác ban đầu. Nhưng rồi bụi đất ngày càng phủ dày nên tính thiện đã bị thay thế bằng tính ác, bởi vậy Trời bèn thiết lập địa ngục để làm chốn hối cải cho thanh tịnh lại.

Bởi căn tính của chúng sinh bị ô nhiễm biến chất nên ngày càng trụy lạc, gần đây trở thành quá bại hoại, khiến địa ngục đông nghẹt chúng sinh. Ngọc Hoàng Thượng Đế thấy vậy không nỡ để cho loài người đọa trầm hơn nữa, mới tỏa ánh linh quang cho tiết lộ những hình phạt ghê gớm dưới địa ngục để cảnh cáo người đời hầu tránh không đạp lên vết bánh xe đó nữa mới mong trở về được nguồn cội, dứt nghiệp khổ đau luân hồi.

Địa Tạng Bồ Tát là đứng đầu cõi âm môn, cai quản mười điện địa ngục. Người trần tới địa ngục mới biết rõ rằng mình đã từ bỏ cõi thế, lúc còn sống họ không tin có quỷ thần và báo ứng nhân quả. Lúc tới đây mới vỡ lẽ rằng khi chết không phải là mọi sự, mọi vật tiêu tan hết. Do đó có câu: “Nhất đán vô thường vạn sự không, âm lộ chỉ hữu nghiệt tùy thân” (một sớm đổi thay muôn sự chẳng còn chi, chỉ còn cái nhân xấu đeo theo mình nơi ngả đường âm phủ). Người đời nếu như không giữ gìn được khuôn phép của gia cương, hành động bừa bãi thì tổ tiên họ ắt cũng bị liên lụy. Cho nên nói “Cửu Huyền Thất Tổ” huyết mạch tương quan, nhân quả tuần hoàn mật thiết. Tự làm tự chịu chẳng sai mảy may, gói gọn trong 4 câu thơ:

Bạc bài ham thích kiếp thiêu thân
Phú quý sang giàu phúc chốc tan
Thiếu phụ tham dâm vùi tiết hạnh
Hang sâu đọa lạc há kêu than.

Nghiệt kính đài[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi bị giải tới Tám ngục nóng để nhận lãnh quả báo, linh hồn tội nhân bị giải tới trước Nghiệt Kính đài soi rõ những tội lỗi đã làm nơi dương gian, để không chối cãi vào đâu được.

Đài Gương soi Ác Nghiệp, do khí thiêng Trời Đất kết tụ thành. Linh hồn phạm nhân tới đây, bản chất thực của họ bị chiếu rọi ra hết. Sự thực thì cũng chẳng kì ảo gì. Con người có linh tính, nên những việc mình làm, tự mình biết rõ. Tâm linh của mình như một cái máy chụp hình, có thể thâu hết những hành vi ở cõi thế vào trong ống kính, không sót mảy may, nên nó chính là “Tâm kính”. Trước khi hành động, đã tự vấn, cân nhắc kĩ càng rồi mới ra tay, thì hẳn là có sự chỉ dạy của “Tâm”. Do đó, thần thức âm thầm ghi lại hết những hành vi lớn nhỏ.

Nghiệt Kính Đài ở âm phủ do hai khí âm dương kết hợp, khi gặp hai khí hồn phách của người, lập tức hai luồng điển giao nhau, đem hết những hình ảnh của cả một kiếp người đã ghi chép được chiếu rọi rõ ra. Cho nên, kẻ làm ác đến trước Nghiệt Kính Đài thì những điều sâu kín lộ ra hết, không dấu diếm nổi. Kinh Phật có nói “Vạn pháp do tâm sở sanh” (mọi pháp do tâm đẻ ra) đó cũng là dựa theo nguyên lí này vậy. Do vậy dân gian có bài thơ:

Hồn soi gương ác hiện nguyên hình
Bớt chữ gom văn ngầm sửa kinh
Luật xử công minh nơi địa ngục
Người đời tạo ác chịu nghiêm hình.

Tám ngục nóng[sửa | sửa mã nguồn]

Tám địa ngục nóng gồm:

  1. Đẳng hoạt địa ngục (zh. 等活地獄, sa. saṃjīva-naraka): nơi chúng sinh bị hành hình, chết rồi sống lại và chịu tội báo như những lần trước;
  2. Hắc thằng địa ngục (zh. 黒繩地獄, sa. kālasūtra-naraka): nơi chúng sinh bị trói bằng dây sắt;
  3. Chúng hợp địa ngục (zh. 衆合地獄, sa. saṃghāta-naraka): nơi chúng sinh bị (núi đá) ép chặt;
  4. Hào khiếu địa ngục (zh. 號叫地獄, sa. raurava-naraka): nơi chúng sinh kêu la thảm thiết;
  5. Đại khiếu địa ngục (zh. 大叫地獄, sa. mahāraurava-naraka): nơi chúng sinh kêu la rất thống thiết;
  6. Viêm nhiệt địa ngục (炎熱地獄, sa. tāpana-naraka): nơi chúng sinh bị hành hình bằng thiêu đốt;
  7. Đại nhiệt địa ngục (zh. 大熱地獄, sa. pratāpana-naraka): nơi chúng sinh bị hành hình bằng sự thiêu đốt rất khổ sở;
  8. Vô gián địa ngục (zh. 無間地獄, sa. avīci-naraka): dành cho 5 đại trọng tội: giết cha mẹ, phỉ báng và phản lại Đạo Trời, chia rẽ chúng tăng, giết A-la-hán, làm Phật chảy máu. Nơi đó chúng sinh bị hành hình liên tục đời đời, không gián đoạn, tội nhân không thể chết, phải bỏ thân nầy thụ thân khác trả quả báo, mãi mãi không được siêu sinh đầu thai. Khám lớn là A Tì Đại Địa ngục, rộng 800 dặm do tuần, đều bao lưới sắt, lập riêng 16 Địa ngục nhỏ:

1. Ngục xao cốt chước thân (đạp xương đốt mình).
2. Ngục sưu cân lôi cốt (rút gân nghiềng xương).
3. Ngục nha thực tâm can (quạ ăn tim gan).
4. Ngục cẩn thực trường quế(chó ăn ruột phổi).
5. Ngục thân thiêu diệt du (mình tưới dầu sôi).
6. Ngục não cô bạt thiệt, bạt xỉ, nỏ đầu (kéo lưỡi, nhổ răng).
7. Ngục thủ não vị điền (con nhím khoét sọ ăn óc).
8. Ngục chưng đầu, quái não(nấu dầu, nạo óc).
9. Ngục dương súc thành hải(dê cụng, bấu).
10. Ngục một hiệp đảnh ta (nỏ nát sọ).
11. Ngục ma tâm (móc tim đemxây).
12. Ngục phi thanh tâm thân (trấn nước sôi).
13. Ngục huỳnh phong (ong vò vẻ đánh).
14. Ngục nghị chú ngao thầm, kiên đục tóp (thắng mởcho kiến ăn).
15. Ngục yết câu (bò cạp chích).
16. Ngục tử xích độc xà toành khổng (rắn đỏ độc chim cửu khiếu).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fo Guang Ta-tz'u-tien 佛光大辭典. Fo Guang Ta-tz'u-tien pien-hsiu wei-yuan-hui 佛光大辭典編修委員會. Taipei: Fo-kuang ch'u-pan-she, 1988. (Phật Quang Đại Từ Điển. Phật Quang Đại Từ Điển biên tu uỷ viên hội. Đài Bắc: Phật Quang xuất bản xã, 1988.)
  • Das Lexikon der Östlichen Weisheitslehren, Bern 1986.