Bèo tây

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bèo tây
Water hyacinth bloom.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Monocots
(không phân hạng) Commelinids
Bộ (ordo) Commelinales
Họ (familia) Pontederiaceae
Chi (genus) Eichhornia
Loài (species) E. crassipes
Danh pháp hai phần
Eichhornia crassipes
(Mart.) Solms (1883)
Bèo tây

Bèo tây (danh pháp hai phần: Eichhornia crassipes) còn được gọi là lục bình, lộc bình, hay bèo Nhật Bản là một loài thực vật thuỷ sinh, thân thảo, sống nổi theo dòng nước, thuộc về chi Eichhornia của họ Họ Bèo tây (Pontederiaceae).

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Cây bèo tây xuất xứ từ châu Nam Mỹ, du nhập Việt Nam khoảng năm 1905,[1] do đó trong tiếng Việt mới có tên bèo tây. Còn tên bèo Nhật Bản vì có người cho là mang từ Nhật về. Lộc bình do cuống lá phình lên giống lọ lộc bình. Phù bình vì nó nổi trên mặt nước.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Cây bèo tây mọc cao khoảng 30 cm với dạng lá hình tròn, màu xanh lục, láng và nhẵn mặt, gân lá hình cung dài,hẹp. Lá cuốn vào nhau như những cánh hoa. Cuống lá nở phình ra như bong bóng xốp ruột giúp cây bèo nổi trên mặt nước. Ba lá đài giống như ba cánh. Rễ bèo trông như lông vũ sắc đen buông rủ xuống nước, dài đến 1m.

Sang hè cây bèo nở hoa sắc tím nhạt, điểm chấm màu lam, cánh hoa trên có 1 đốt vàng. Có 6 nhuỵ gồm 3 dài 3 ngắn. Bầu thượng 3 ô đựng nhiều noãn, quả nang. Dò hoa đứng thẳng đưa hoa vươn cao lên khỏi túm lá.

Cây bèo tây sinh sản rất nhanh nên dễ làm nghẽn ao hồ, kinh rạch. Một cây mẹ có thể đẻ cây con, tăng số gấp đôi mỗi 2 tuần.Sống ở cả trên cạn và dưới nước

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong y học dân gian[sửa | sửa mã nguồn]

Tên thuốc thường gọi là Phù bình, lá và thân có vị ngọt cay, tính mát không độc, có tác dụng tiêu viêm giải độc lành da. Dùng tươi lá bèo đem giã với muối rồi đem đắp lên ung nhọt, khô thì thay miếng khác, nhiều lần sẽ làm giảm sưng[1]. Nếu vết tấy bắt đầu nung mủ thì sẽ chóng vỡ mủ giảm đau. Dùng khô thân và lá phơi khô sao thơm khử thổ phối hợp với các vị thuốc khác chữa hạch cổ tràng nhạc

Hoa hơi ngọt, tính mát, có tác dụng an thần, lợi tiểu, giải độc, trừ phong nhiệt. Khi ho hen ho đàm hoặc ho gió, chưng một nắm hoa với đường phèn uống, kết hợp thêm hoa hoè hoa khế càng tốt. Người cao huyết áp mãn tính dùng hoa chế trà uống mỗi ngày cũng có tác dụng bình ổn

Những ứng dụng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ở dạng tự nhiên, loại bèo này có tác dụng hấp thụ những kim loại nặng (như chì, thủy ngânstrontium) và vì thế có thể dùng để khử trừ ô nhiễm môi trường[2].

Bèo tây được sử dụng làm thức ăn cho gia súc, dùng ủ nấm rơm, làm phân chuồng.

Cây bèo tây còn có công dụng thủ công nghiệp. Xơ lục bình phơi khô có thể chế biến để dùng bện thành dây, thành thừng rồi dệt thành chiếu, hàng thủ công, hay bàn ghế.

Như mọi loài rau thôn dã, ngó lộc bình xào ngon không kém ngó sen. Đọt non và cuống lá nấu canh tép, cá lóc, tôm khô. Hoa luộc chấm cá kho hoặc xào thịt heo hay lòng heo đều ngon

Bèo tây trong dân ca, văn học Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Bèo tây trôi trên sông Hậu

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Nguyen Van Duong. Medicinal Plants of Vietnam, Cambodia, and Laos. Santa Monica: Mekong, 1993.
  2. ^ http://ecosyn.us/ecocity/Links/My_Links_Pages/Water_Pure_WH_01.html

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Báo Tài hoa trẻ số 159 và phụ san Báo Khoa học phổ thông bài "Vị thuốc trên sông" của đông y Thái Thanh Nguyên
  2. Cây thuốc và vị thuốc thường dùng của Đỗ Tất Lợi