Bùi Bằng Đoàn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bùi Bằng Đoàn
Buibangdoan.jpg
Chí sĩ Bùi Bằng Đoàn (1889-1955)
Chức vụ
Thanh tra đặc biệt Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Nhiệm kỳ 6 tháng 1, 1946 – 8 tháng 11, 1946
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000306.000000306 ngày
Khu vực Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Nhiệm kỳ 8 tháng 11, 1946 – 13 tháng 4, 1955
&0000000000000008.0000008 năm, &0000000000000156.000000156 ngày
Tiền nhiệm Nguyễn Văn Tố
Kế nhiệm Trường Chinh
Khu vực Flag of Vietnam.svg Việt Nam
Thông tin chung
Đảng không đảng phái
Sinh 19 tháng 9, 1889(1889-09-19)
Hà Đông, Đông Dương thuộc Pháp
Mất 13 tháng 4, 1955 (65 tuổi)
Hà Nội, Việt Nam
Họ hàng con: Bùi Tín, Bùi Nghĩa
Vợ Trần Thị Đức

Bùi Bằng Đoàn (18891955) là Thượng thư triều Nguyễn, Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trưởng ban Thường trực Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa 1 (19461955).

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bùi Bằng Đoàn sinh ngày 19 tháng 9 năm 1889, tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Thành phố Hà Nội) trong một gia đình truyền thống Nho học. Ông nội là Tiến sĩ Bùi Tuấn, hàm Thái tử Thiếu bảo, từng làm Giám khảo các kỳ thi Hương, giữ chức Tả Tham tri Bộ Binh kiêm Tổng đốc tỉnh Bắc Ninh đánh dẹp giặc Ngô Côn. Cha là Bùi Tập từng giữ chức Tuần phủ tỉnh Hưng Hóa.

Cha mẹ đều mất sớm, cả 6 anh em được người chú dượng là Dương Lâm (tức cụ Thiếu bảo Vân Đình lúc đó làm Tham tri Nha Kinh lược Bắc kỳ) đưa về nuôi dưỡng và dạy học chữ Hán.

Khoa thi năm Bính Ngọ 1906, ba anh em Bùi Bằng Phấn, Bùi Bằng Thuận và Bùi Bằng Đoàn đều ứng thí. Kết quả, Bùi Bằng Phấn đỗ Tú tài, còn Bùi Bằng Thuận và Bùi Bằng Đoàn cùng đỗ Cử nhân. Ba anh em được mệnh danh là Hà đông tam bằng.

Về sau Bùi Bằng Thuận còn đỗ Tiến sĩ khoa thi năm 1916 cùng với Bùi Bằng Phấn đều làm quan Nam triều đến hàng Tuần phủ, về hưu trước năm 1945.

Thời gian làm quan Nam triều[sửa | sửa mã nguồn]

Con đường quan lộ của ông hanh thông năm 1907 thi vào trường Hậu Bổ tại Hà Nội. Ông thông thạo cả Pháp văn và Hán văn.

Năm Tân Hợi (1911), ông tốt nghiệp, được bổ làm Tri huyện, sau đó làm Tri phủ Xuân Trường (tỉnh Nam định), Án sát tỉnh Bắc Ninh; Tuần phủ các tỉnh Cao Bằng, Ninh Bình; rồi làm đến Thượng thư bộ Hình của triều đình Huế, trong nội các của Phạm Quỳnh năm 1933, hàm Thái tử Thiếu bảo.

Khi làm quan ông nổi tiếng là vị quan đức độ, thanh liêm, chính trực, chăm dân. Trên công đường ở những nơi ông làm quan, đều có treo một bảng thông báo "không nhận quà biếu". Với người nhà, ông rất nghiêm khắc, cấm tiệt việc nhận quà, nếu lỡ nhận rồi thì phải mang đi trả lại.

Lúc làm Tri phủ Xuân Trường (Nam Định) ông đã đề xuất và thực hiện việc đắp đê Bạch Long ngăn nước mặn, tạo lập được một vùng lúa, dâu rộng lớn. Ghi công đức ông, dân địa phương đã làm lễ tế sống vị "phụ mẫu chi dân" trẻ tuổi ngay nơi nhậm chức.

Năm 1925, trước việc báo chí lên án cảnh phu đồn điền ở miền Nam bị bóc lột dã man, Chính phủ Nam triều đã cử Bùi Bằng Đoàn vào Nam bộ thanh tra các đồn điền cao su của Pháp. Ông đã tiến hành thanh tra thấu đáo, viết một bản báo cáo dày đến 100 trang bằng tiếng Pháp nêu bật lên những điều vô lý trong chính sách đối với phu đồn điền. Những kiến nghị xác đáng của bản báo cáo đã được nhà đương cục chấp nhận, giảm thiếu những chế độ hà khắc đối với công nhân đồn điền cao su thời đó.

Năm 1925, mặc dù đang làm tri phủ Nghĩa Hưng (tỉnh Nam định) nhưng ông vẫn được mời lên Hà Nội làm thông ngôn cho phiên tòa đại hình xử vụ án cụ Phan Bội Châu. Với tính cách cương trực, bênh vực lẽ phải, Bùi Bằng Đoàn đã thông dịch rõ ràng, trung thực những lời nói, lý lẽ đanh thép của cụ Phan Bội Châu để rồi sau đó tòa án đã không khép được cụ Phan vào án chung thân mà giảm xuống hình thức "an trí ở Huế"

Đầu năm 1933 ông được bổ nhiệm làm Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, không lâu sau đó khi Phạm Quỳnh tổ chức Nội các ông được bổ nhiệm làm Thượng thư bộ Hình. Trong mười hai năm ở kinh đô Huế ông trông nom việc xử kiện tại tất cả các tỉnh Trung Kỳ, chỉ đạo việc soạn thảo các luật cho Trung Kỳ đều bằng tiếng Pháp, tiếng Việt và dịch ra chữ Hán.

Tháng 3.1945, Nhật đảo chính Pháp, Vua Bảo Đại xuống chiếu thành lập Chính phủ, ông đã từ chối tham gia Chính phủ, cáo quan về quê. Tuy nhiên, Chính phủ Nam triều đã mời ông ở lại bằng được và giao cho ông giữ chức Chánh nhất Tòa Thượng thẩm Hà Nội. Ở thời điểm "đêm trước" của cách mạng, tổ chức Việt Minh đã tiếp xúc và mời ông làm Hội trưởng Hội bảo vệ tù chính trị.

Tham gia bộ máy chính quyền cách mạng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 25 tháng 11 năm 1945 Hồ Chủ tịch mời ông tham gia Ban cố vấn Chủ tịch nước, thành viên Ủy ban nghiên cứu kế hoạch kiến thiết đất nước.[1]

Ngày 6 tháng 1 năm 1946 ông ứng cử đại biểu Quốc hội Việt Nam tại tỉnh Hà Đông và trúng cử, đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ cử ông làm Trưởng ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ,[2] tương đương với chức Tổng Thanh tra Chính phủ Việt Nam.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, ông được bầu vào Ban Thường trực Quốc hội, tham gia thành lập Hội liên hiêp quốc dân. Ngày 8 tháng 11 năm 1946, ông được cử làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội thay cho ông Nguyễn Văn Tố.

Năm 1947-1948, ông hoạt động ở chiến khu Việt Bắc. Tháng 8 năm 1948 ông bị bệnh bán thân bất toại ở Việt Bắc, Hồ chủ tịch ra lệnh đưa ông về Liên khu 3, trong thời gian bệnh ông vẫn theo dõi tin tức và đóng góp ý kiến. Do ông phải đi chữa bệnh ở xa, ông Tôn Đức Thắng được cử giữ chức Quyền Trưởng Ban Thường trực Quốc hội.

Hòa bình lập lại ông về Hà Nội dưỡng bệnh.

Ngày 13 tháng 4 năm 1955, ông qua đời tại Hà Nội.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ ông là bà Trần Thị Đức. Ông bà có tám người con gái và hai người con trai là nhà báo Bùi Tín, doanh nhân Bùi Nghĩa - Chủ tịch hội Doanh nghiệp họ Bùi Việt Nam.

Cuối năm 1948 Hồ Chủ Tịch và Trung ương đã quyết định đưa ông về xuôi để dưỡng bệnh. Khi về gần đến nhà thì gặp lính Pháp đang càn quét ở Vân Đình, ông phải lánh đi. Khi đó, một mình bà Trần Thị Đức ở nhà, đang cất giấu tài liệu của Quốc hội, của Đảng thì bị giặc Pháp ập vào và bắn chết. Sự hy sinh của bà mãi tới năm 1955, khi về thăm nhà ông mới được biết.

Tặng thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Ông đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhất, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất.[cần dẫn nguồn]

Hiện tên ông được đặt cho một con phố tại phường Nguyễn Trãi, quận Hà Đông, Hà Nội. Một phố cạnh trường Đại học sư phạm kỹ thuật Nam Định, tại Thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định và một phố ở trong khu đô thị Phú Mỹ Hưng, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh[cần dẫn nguồn]

Thơ ca[sửa | sửa mã nguồn]

Ông còn nổi tiếng về việc xướng họa thơ từ với Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1948. Hồ Chủ tịch đã tặng ông bài thơ bằng chữ Hán:

Khán thư sơn điểu thê song hãn
Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì
Tiệp báo tần lai lao dịch mã
Tư công tức cảnh tặng tân thi.
Xem sách chim rừng vào cửa đậu
Phê văn hoa núi chiếu nghiên soi
Tin vui thắng trận dồn chân ngựa
Nhớ cụ thơ xuân tặng một bài.

Ông đã họa lại như sau:

Thiết thạch nhất tâm phù chủng tộc
Giang sơn vạn lý thủ thành trì
Tri công quốc sự vô dư hạ
Thao bút nhưng thành thoái lỗ thi.
Sắt đá một lòng vì chủng tộc
Non sông muôn dặm giữ cơ đồ
Biết Người việc nước không hề rảnh
Vung bút thành thơ đuổi giặc thù.