Băng đạn gắn phía sau

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khẩu TAR-21 của Israel
Khẩu FAMAS của Pháp
Khẩu Steyr AUG của Áo

Băng đạn gắn phía sau hay Bullpup là thiết kế các loại súng mà cả bộ khóa nòng và hộp đạn đều được lắp phía sau cò súng hay nói cách khác là ở ngay sát mặt của xạ thủ khi ngắm bắn, vì thế nó không cần tốn không gian để phải có báng súng dài như các thiết kế thông thường. Điều này khiến cho chiều dài tổng thể của súng ngắn hơn nhưng nòng súng không hề ngắn hơn nên vẫn giữ nguyên được độ chính xác nó còn giúp tăng tính cơ động và làm trọng lượng trở nên nhẹ hơn.

Loại súng có thiết kế băng đạn gắn phía sau đầu tiên không rõ được chế tạo vào lúc nào hay tại đâu.

Hình dáng[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu Bushmaster M17S của ÚcHoa Kỳ.
Khẩu SA-80 của Anh.

Với thiết kế băng đạn gắn phía sau toàn bộ hệ thống hoạt động của súng được chuyển ra phía sau cò súng, cò súng sẽ nằm ngay chính giữa thân súng và chiều dài của báng súng sẽ ngắn đi. Việc này làm giảm chiều dài tổng thể của báng súng nhưng không làm giảm chiều dài của nòng súng và còn giúp giảm trọng lượng. Thiết kế băng đạn gắn phía sau thường làm giảm 25% chiều dài của súng nó giúp làm tăng độ linh hoạt trong các môi trường chiến đấu chật hẹp.

Điểm yếu của thiết kế này là bộ khóa nòng nằm ngay sát mặt của xạ thủ khi ngắm bắn nên nó sẽ không thể chiến đấu hiệu quả nếu chưa nói là rất khó khăn khi xạ thủ là người thuận tay trái. Vì khi bắn các vỏ dạn nóng bỏng sẽ được đẩy ra ở phía tay phải của súng nếu xạ thủ thuận tay trái ngắm bắn thì nó sẽ văng trúng mặt của họ nên buộc họ phải sử dụng trái tay. Có một số mẫu thiết kế tiêu biểu như các súng trường tấn công FAMASSteyr AUG, để khắc phục nhược điểm này các nhà thiết kế đã thiết kế lá chắn của bộ khóa nòng và thoi nạp đạn có thể xoay về hai hướng khiến nó có thể giống như mẫu thiết kế dành cho người thuận tay trái khi sử dụng. Các mẫu khác như FN P90 thì cho vỏ đạn vào một khe rồi đẩy ra ở phần dưới phía sau của khẩu súng. Khẩu FN F2000, FS2000 và Kel-Tec RFB thì phóng vỏ đạn phía trước nòng súng thông qua một rãnh, các vỏ đạn được đẩy ra sau khi bắn sẽ theo khe này đi ra ngoài. Khẩu Heckler & Koch G11 vốn sử dụng đạn không vỏ nên không cần khe nhả vỏ đạn ra ngoài, nhưng những viên đạn không phát nổ có thể được đẩy vào khe nằm bên dưới khoang chứa đạn khi xoay khoang chứa đạn lên thẳng đứng khớp với khe và viên đạn sẽ bị đẩy rơi xuống theo khe đó ra khỏi khẩu súng lúc viên đạn mới được đẩy vào thế chỗ.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu EM-2 của Anh

Các mẫu đầu tiên sử dụng hệ thống thoi nạp đạn trược như khẩu Thorneycroft năm 1901, cho dù chiều dài giảm đi nhưng khoảng cách từ cò súng cho đến kim kiểm hỏa tăng lên nên cần tính thêm thời gian để mất để việc bắn được thực hiện từ khi bóp cò. Thiết kế này cũng từng được tin là có áp dụng cho loại súng trường bán tự động năm 1918, đến năm 1936 thì khẩu súng tiểu liên có băng đạn gắn phía sau được một người Pháp có tên Henri Delacre chế tạo.

Sau thế chiến thứ hai, các kỹ sư phương Tây đã lấy cảm hứng từ thiết kế của khẩu súng trường tấn công Sturmgewehr 44 loại mà có kết hợp hài hòa giữa thoi nạp đạn trượcsúng tiểu liên, một trong số họ là Kazimierz Januszewski (hay còn được biết với tên Stefan Janson). Januszewski là một kỹ sư người Ba Lan đã làm việc tại kho vũ khí quốc gia ở Ba Lan những năm 1930. Sau khi được điều động ra chiến trường ông đã phải chạy trốn quân Đức và Nga sau đó lên đường đến Anh nơi ông gia nhập vào "đội ngũ thiết kế Ba Lan" tại nhà máy Royal Small Arms của Enfield Lock. Nhà máy này được điều hành bởi trung tá Edward Kent-Lemon. Januszewski đã tiến hành phát triển một loại súng trường mới với ý tưởng "chương trình súng trường ngắn lý tưởng" để có thể thay thế cho các khẩu sử dụng loại đạn.303. Chương trình bắt đầu thiết kế dựa trên loại đạn .280 British (7 mm) đã giao cho Januszewski cùng hai đồng nghiệp khác làm việc tại Enfield công việc thiết kế. Một nhóm thiết kế khác được dẫn dắc bởi Stanley Thorpe đã quyết định tạo ra một loại súng sửng dụng phương pháp nạp đạn bằng khí nén cùng với hệ thống khóa dựa trên thiết kế của khẩu Sturmgewehr. Tuy nhiên do thiết kế này sử dụng các mảnh hợp kim ép rất khó để làm nên thiết kế này đã bị bỏ dỡ. Còn kết quả của nhóm thiết kế Ba Lan là khẩu EM-2 đã phá vỡ các tiêu chuẩn lúc đó.

Khẩu EM-2 có một số điểm tương đồng với khẩu AK-47 của Liên Xô cho dù Januszewski chưa từng thấy khẩu AK-47 trước đó. Tầm quan trọng của súng trường tấn công có thiết kế băng đạn gắn phía sau đã được chứng minh trong các chương trình vũ khí tại Anh để bắt đầu tiến hành thay thế các loại súng ngắn, súng tiểu liênsúng trường đang sử dụng hiện tại. Lấy thiết kế của khẩu EM-1 và EM-2một khái niệm về súng trường mới đã được hình thành trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Rõ ràng rằng các cuộc chiến hiện đại đòi hỏi các loại vũ khí bộ binh phải nhẹ, có thể chọn chế độ bắn, với tầm hoạt động xa hơn nhiều so với các loại súng tiểu liên nhưng phải ngắn hơn các loại súng trường bán tự động hay thoi nạp đan trược. Lựa chọn thiết kế băng đạn gắn phía sau là cần thiết để có thể giảm chiều dài tổng thể của khẩu súng nhưng vẫn giữ được độ chính xác. Anh đã thông qua một cách giới hạn các khẩu EM-2 để đưa vào sử dụng trong quân đội và trở thành nước đầu tiên có loại súng sử dụng thiết kế băng đạn gắn phía sau trong biên chế năm 1951. Nhưng từ khi Anh chuyển sanh sử dụng loại đạn 7.62x51mm NATO thì các khẩu EM-2 không thể đáp ứng vì thế nên một loại súng mới là FN FAL đã thế chỗ của nó.

Một loại súng trường tấn công có thiết kế băng đạn gắn phía sau khác sử dụng loại đạn 7.62x39mm M43 được thiết kế bởi German A. Korobov tại Liên Xô khoảng năm 1945 và được phát triển xa hơn là khẩu Korobov TKB-408 đã gia nhập vào các cuộc thử nghiệm của quân đội Xô Viết cùng các mẫu thiết kế khác để có thể trở thành vũ khí tiêu chuẩn của hồng quân, tuy nhiên nó đã bị từ chối vì khẩu AK-47 phổ biến hơn. Còn tại Hoa Kỳ thì khẩu Model 45A băng đạn gắn phía sau phát triển cung năm đó không tiến xa hơn giai đoạn thử nghiệm.

Cho dù thiết kế băng đạn gắn phía sau không được thành công lắm trong việc thuyết phục đưa vào biên chế thì nó vẫn được hỗ trợ tiếp tục phát triển giống như khẩu TKB-022 của Korobov.

Phục vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Khẩu QBZ-95 (Kiểu 95) của Trung Hoa
Khẩu SVU của Nga

Khẩu Steyr AUG là loại súng có băng đạn gắn phía sau thành công đầu tiên trong loại này nó đã được xuất khẩu và sử dụng trong nhiều mục đích của hơn 20 quốc gia trên thế giới và trở thành vũ khí chính tại ÚcÁo. Nó được cho là rất tiên tiến những năm 1970 với các đặc tính như băng đạn gắn phía sau, hộp đạn bằng nhựa tổng hợp, hai tay cầm thẳng đứng, có ống ngắm là tiêu chuẩn và các bộ phận liền thành nhiều khối. Với độ tin cậy cao, nhẹ và chính xác Steyr AUG đã cho thấy rõ tiềm năng của các thiết kế băng đạn gắn phía sau.

Anh tiếp tục thiết kế các khẩu có băng đạng gắn phía sau của mình mà kết quả là khẩu SA80 (L85) được đươa vào biên chế năm 1985. Nhưng do có trục trặc về độ tin cậy nên đã giao cho công ty Heckler & Koch sửa chữa và thiết kế lại thành L85A2, và hiện tại nó là một loại súng đáng tin cậy, chính xác và nhẹ hơn là các khẩu súng trường nặng nề. Thiết kế này đã được đưa vào biên chế trong quân đội của một số nước mạnh ở phương Tây nên thiết kế băng đạn gắn phía sau đã trở nên thông dụng hơn. Khẩu SAR-21 của Singapore đã sử dụng một tấm ngăn có thể gắn vào làm chệch hướng vỏ đạn bay ra để khắc phục nhược điểm của thiết kế này. Israel Military Industries cũng đã thiết kế một khẩu có băng đạn gắn phía sau là khẩu IMI Tavor TAR-21 để trang bị cho các lực lượng quân sự của mình. Khẩu QBZ-95 đã được trang bị đại trà trong Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Khẩu FAMAS được xem là loại vũ khí tiêu chuẩn cho quân đội tại Pháp.

Một số loại súng bắn tỉa cũng có thiết kế băng đạn gắn phía sau như Dragunov SVU của Nga hay Barrett XM500 của Hoa Kỳ...

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]