Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Top 30 đội dẫn đầu bảng xếp hạng hạng FIFA 2 tháng 8 2013[1]
Hạng Thay đổi vị trí Đội Điểm
1 Straight Line Steady.svg  Hoa Kỳ 2229
2  Đức 2152
3  Nhật Bản 2072
4  Brasil 2042
5  Thụy Điển 2028
6  Pháp 2020
7 Green Arrow Up Darker.svg 1  Canada 1982
8 Green Arrow Up Darker.svg 2  Úc 1956
8 Green Arrow Up Darker.svg 1  CHDCND Triều Tiên 1956
10 Green Arrow Up Darker.svg 1  Na Uy 1953
11 Red Arrow Down.svg 4  Anh 1938
12 Green Arrow Up Darker.svg 1  Đan Mạch 1912
12 Straight Line Steady.svg  Ý 1912
14  Hà Lan 1871
15  Iceland 1847
16 Green Arrow Up Darker.svg 1  Trung Quốc 1832
17 Red Arrow Down.svg 1  Hàn Quốc 1831
17 Green Arrow Up Darker.svg 1  Tây Ban Nha 1831
19 Straight Line Steady.svg  New Zealand 1810
20  Scotland 1801
21 Green Arrow Up Darker.svg 1  Nga 1800
22 Red Arrow Down.svg 1  Phần Lan 1788
23 Straight Line Steady.svg  Ukraina 1770
24  México 1761
25  Thụy Sĩ 1727
26  Cộng hòa Séc 1702
27  Bỉ 1667
28  Việt Nam 1654
29  Colombia 1650
30 Green Arrow Up Darker.svg 1  Ba Lan 1644

Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA ra đời vào năm 2003 với lần công bố đầu tiên vào tháng Ba năm đó, như là một sự tiếp nối sau sự ra đời của bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA. Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA cố gắng để so sánh trình độ của các đội bóng quốc tế ở bất kì thời điểm nào.

Sự khác biệt với hệ thống xếp hạng của nam[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều sự khác biệt trong công thức của bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA:

  • Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA chỉ công bố 4 lần một năm. Thông thường bảng xếp hạng sẽ công bố vào các tháng 3, 6,9 và 12 (4 quý). Tuy nhiên thời gian cũng có thể được điều chỉnh lại trong các năm xảy ra World Cup; ví dụ, vào năm 2007, bảng xếp hạng quý 3 công bố vào tháng 10, để cho bảng xếp hạng có thể ghi nhận được kết quả của World Cup 2007 tổ chức vào tháng 10. Trái lại bảng xếp hạng nam được công bố hàng tháng.
  • Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA dựa trên mỗi trận đấu mà đội tuyển thi đấu quốc tế, trở lại đến năm 1971, trận đấu quốc tế đầu tiên được FIFA chấp nhận giữa PhápHà Lan. Hệ thống xếp hạng của nam chỉ tính các trận đấu trong vòng 4 năm.
  • Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA không có thiên hướng làm cho nổi bật các kết quả gần đây, trong khi đó những kết quả của nam lại lệch về các thang đối chiếu, tức là nhấn mạnh đến các kết quả gần đây.

Kết quả này có nhiều sự tương tự với hệ thống chỉ số Elo trong bóng đá; chỉ số cho các đội có ít hơn 30 trận nên được xem xét tạm thời.

Các đội dẫn đầu bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA

Phương pháp tính toán[sửa | sửa mã nguồn]

Công thức cơ bản của WWR là trong thực tế khá đơn giản:

WWR, mới = WWR, cũ + (thực tế - dự đoán) trong đó WWR - Women's World Ranking là ví trí trong bảng xếp hạng

Các tiêu chí chính:

  • Kết quả của các trận đấu
  • Sân nhà, sân khách hay sân trung lập
  • Tầm quan trọng của trận đấu
  • Sự khác biệt trong WWR giữa hai đội

Các đội dẫn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Đức và Mỹ là hai đội duy nhất cùng dẫn đầu bảng xếp hạng. Giữa hai đội này họ thay phiên nhau nắm giữ hai vị trí đầu của bảng xếp hạng kể từ bảng xếp hạng quý 3 năm 2003 (tháng 10/2003), ngay sau World Cup 2003 cho đến bảng xếp hạng quý 4 năm 2008 (tháng 12/2008). Đức xếp hạng 3 sau Na Uy khi bảng xếp hạng quý 1 năm 2009 công bố, và rơi ra khỏi top 2 thêm một lần nữa khi bị Brasil thế chỗ, nhưng họ đã trở lại sau thành công ở EURO 2009.

Vị trí xếp hạng của Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

  • 8/2013: thứ 28
  • 6/2013 : thứ 28
  • 3/2013 : thứ 30
  • 12/2012 : thứ 30
  • 6,8/2012 : thứ 31
  • 3/2012 : thứ 30
  • 9,12/2011 : thứ 31
  • 3,6/2011: thứ 32
  • 11/2010: thứ 34
  • 8/2010: thứ 31
  • 5/2010: thứ 32
  • 3/2010: thứ 32
  • 12/2009:thứ 32
  • 9/2009:thứ 31
  • 3,6/2009:thứ 30
  • 12/2008:thứ 30
  • 6,9/2008:thứ 32
  • 2007: thứ 36
  • 2006: thứ 36
  • 2005: thứ 36
  • 2004: thứ 43
  • 2003: thứ 42

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]