Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA
| Thông tin ở đây có thể đã lỗi thời hay không còn chính xác nữa. Nếu biết thông tin mới cho trang này, xin bạn giúp cập nhật. |
| Top 25 đội dẫn đầu bảng xếp hạng FIFA quý 3 năm 2011 (23/09/2011)[1] | |||
|---|---|---|---|
| Vị trí | Đội | Điểm | Liên đoàn |
| 1 | 2151 | CONCACAF | |
| 2 | 2146 | UEFA | |
| 3 | 2121 | CONMEBOL | |
| 4 | 2106 | AFC | |
| 5 | 2085 | UEFA | |
| 6 | 1985 | UEFA | |
| 7 | 1982 | UEFA | |
| 8 | 1967 | AFC | |
| 9 | 1964 | CONCACAF | |
| 10 | 1956 | AFC | |
| 11 | 1930 | UEFA | |
| 12 | 1928 | UEFA | |
| 13 | 1897 | UEFA | |
| 14 | 1888 | UEFA | |
| 15 | 1860 | UEFA | |
| 16 | 1845 | AFC | |
| 17 | 1831 | AFC | |
| 18 | 1819 | UEFA | |
| 19 | 1813 | UEFA | |
| 20 | 1802 | UEFA | |
| 21 | 1801 | UEFA | |
| 22 | 1792 | CONCACAF | |
| 23 | 1772 | UEFA | |
| 24 | 1752 | OFC | |
| 25 | 1730 | UEFA | |
Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA ra đời vào năm 2003 với lần công bố đầu tiên vào tháng Ba năm đó, như là một sự tiếp nối sau sự ra đời của bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA. Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA cố gắng để so sánh trình độ của các đội bóng quốc tế ở bất kì thời điểm nào.
Mục lục |
Sự khác biệt với hệ thống xếp hạng của nam [sửa]
Có nhiều sự khác biệt trong công thức của bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA:
- Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA chỉ công bố 4 lần một năm. Thông thường bảng xếp hạng sẽ công bố vào các tháng 3, 6,9 và 12 (4 quý). Tuy nhiên thời gian cũng có thể được điều chỉnh lại trong các năm xảy ra World Cup; ví dụ, vào năm 2007, bảng xếp hạng quý 3 công bố vào tháng 10, để cho bảng xếp hạng có thể ghi nhận được kết quả của World Cup 2007 tổ chức vào tháng 10. Trái lại bảng xếp hạng nam được công bố hàng tháng.
- Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA dựa trên mỗi trận đấu mà đội tuyển thi đấu quốc tế, trở lại đến năm 1971, trận đấu quốc tế đầu tiên được FIFA chấp nhận giữa Pháp và Hà Lan. Hệ thống xếp hạng của nam chỉ tính các trận đấu trong vòng 4 năm.
- Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA không có thiên hướng làm cho nổi bật các kết quả gần đây, trong khi đó những kết quả của nam lại lệch về các thang đối chiếu, tức là nhấn mạnh đến các kết quả gần đây.
Kết quả này có nhiều sự tương tự với hệ thống chỉ số Elo trong bóng đá; chỉ số cho các đội có ít hơn 30 trận nên được xem xét tạm thời.

Các đội dẫn đầu [sửa]
Đức và Mỹ là hai đội duy nhất cùng dẫn đầu bảng xếp hạng. Giữa hai đội này họ thay phiên nhau nắm giữ hai vị trí đầu của bảng xếp hạng kể từ bảng xếp hạng quý 3 năm 2003 (tháng 10/2003), ngay sau World Cup 2003 cho đến bảng xếp hạng quý 4 năm 2008 (tháng 12/2008). Đức xếp hạng 3 sau Na Uy khi bảng xếp hạng quý 1 năm 2009 công bố, và rơi ra khỏi top 2 thêm một lần nữa khi bị Brasil thế chỗ, nhưng họ đã trở lại sau thành công ở EURO 2009.
Vị trí xếp hạng của Việt Nam [sửa]
- 9/2011: thứ 31
- 3,6/2011: thứ 32
- 12/2010: thứ 34
- 8/2010: thứ 31
- 5/2010: thứ 32
- 3/2010: thứ 32
- 2009: thứ 32
- 2008: thứ 30
- 2007: thứ 36
- 2006: thứ 36
- 2005: thứ 36
- 2004: thứ 43
- 2003: thứ 42
Xem thêm [sửa]
- Giải vô địch bóng đá nữ thế giới
- Algarve Cup
- Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA
- Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu
Chú thích [sửa]
Liên kết ngoài [sửa]
- Current rankings and statistics for all countries - FIFA.com
- Mark's Women's World Football Ranking
- The Roon Ba Women's World Football Ranking
- Women's World Football
- Rating procedure - FIFA.com
|
|||||||||||||||||||||||||||||