Bầu cử ở Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
Coat of arms of Vietnam.svg

Chính trị và chính phủ
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam


Các nước khác

Bầu cử ở Việt Nam là quá trình các cử tri của quốc gia này đưa ra quyết định của họ theo các cách thức mà pháp luật quy định để chọn ra các đại biểu đại diện cho mình nắm giữ các chức vụ trong cơ quan dân cử của chính quyền ở trung ương và địa phương trong phạm vi lãnh thổ của Việt Nam. Việc bầu cử ở Việt Nam gồm bầu cử Quốc hội (ở Trung ương) và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp (ở địa phương).

Thông thường, các cuộc bầu cử được tiến hành khi các cơ quan dân cử (hay cơ quan quyền lực nhà nước) hết nhiệm kỳ. Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, nhiệm kỳ của Quốc hội mỗi khóa là năm năm,[1][2] tương tự, năm năm cũng là nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân các cấp chính vì vậy cứ năm năm một lần, ở Việt Nam lại định kỳ tiến hành bầu cử Quốc Hội và Hội đồng nhân dân các cấp.

Tại Việt Nam, các cuộc bầu cử có tính chất pháp lý rất quan trọng, đó là một khâu quan trọng để thành lập các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương. Là phương thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền lực của mình. Điều 6 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 khẳng định: "Nhân dân sử dụng quyền lực Nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân".

Thuật ngữ bầu cử ở Việt Nam được cho là gắn mật thiết với khái niệm dân chủ, trong đó những cuộc bầu cử tự do và công bằng là phương thức đảm bảo cho việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ đó. Trong một nền dân chủ, quyền lực của nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân (người bị quản lý). Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do và công bằng.

Bầu cử cũng được hiểu là cách thức nhân dân trao quyền cho Nhà nước và với tư cách là một chế độ tiên tiến, Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thể bằng một phương pháp nào khác hơn là bầu cử để thành lập ra các cơ quan của mình.[3]

Cuộc bầu cử là một trong những hình thức hoạt động xã hộichính trị quan trọng của nhân dân. Bầu cử thu hút sự tham gia đông đảo của cử tri đại diện cho các giai cấp, tầng lớp, tôn giáo, giới tính… Bởi vậy để đạt được kết quả, các cuộc bầu cử phải được tiến hành có tổ chức, theo những tình tự chặt chẽ nhất định.[4]

Những trình tự thủ tục này được pháp luật quy định rất chặt chẽ, ở Việt Nam có hàng lọat các văn bản pháp luật điều chỉnh về bầu cử từ Hiến pháp – văn bản có hiệu lực pháp luật cao nhất đến các đạo luật hiện hành như Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1997 đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2001 và năm 2007 (gọi chung là Luật bầu cử đại biểu Quốc hội) [5][6][7] Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003[8] và cho đến các văn bản dưới luật như Nghị định của Chính phủ cụ thể hóa và hướng dẫn chi tiết các văn bản nên trên.[9]

Quyền bầu cử, ứng cử[sửa | sửa mã nguồn]

Quyền bầu cử và ứng cử vào cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất là một trong những quyền cơ bản về chính trị của công dân. Pháp luật hiện hành đã quy định công dân có quyền bầu cử, có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân.[10][11] Theo đó, công dân Việt Nam đủ mười tám tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội. Những công dân này không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú đều được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu cử.

Mặc dù vậy, cũng có những công dân đủ các điều kiện trên nhưng không được ghi tên vào danh sách cử tri là các trường hợp người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật hay người đang phải chấp hành hình phạt hoặc người đang bị tạm giam[12] và người mất năng lực hành vi dân sự.[13] Những quy định kiểu như vậy cũng phù hợp với thông lệ quốc tế.

Ngoài ra, những người sau đây cũng không được tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội gồm: Những người không được tham gia bầu cử thì đương nhiên không được ứng cử, người đang bị khởi tố về hình sự, người đang phải chấp hành bản án, quyết định hình sự của Toà án hoặc đã chấp hành xong nhưng chưa được xóa án tích hay là những người đang chấp hành quyết định xử lý hành chính khác.[14][15][16][17]

Các nguyên tắc bầu cử[sửa | sửa mã nguồn]

Các nguyên tắc bầu cử là các quy tắc, nguyên lý chỉ đạo được áp dụng cho quyền bầu cử chủ thể (quyền bầu cử chủ động và quyền bầu cử bị động). Nguyên tắc bầu cử là điều kiện được quy định bởi pháp luật bầu cử của mỗi nước, mà việc thực hiện và tuân thủ quy định đó trong quá trình bầu cử quyết định tính hợp pháp của cuộc bầu cử.

Các nước trên thế giới áp dụng các nguyên tắc bầu cử sau: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp (gián tiếp) và bỏ phiếu kín. Những nguyên tắc đó thống nhất với nhau, đảm bảo cho cuộc bầu cử được khách quan, dân chủ, thực hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn đại biểu.

Nguyên tắc bầu cử được thể hiện chặt chẽ, thống nhất và xuyên suốt trong toàn bộ quá trình tiến hành bầu cử, bảo đảm cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cử tri khi lựa chọn. Nguyên tắc bầu cử yêu cầu phải quy định rõ quyền và trách nhiệm của cử tri trong bầu cử, trách nhiệm của Nhà nước phải bảo đảm các quy định về bầu cử.

Ở Việt Nam, các nguyên tắc bầu cử dân chủ được kế thừa, bổ sung và phát triển để làm một căn cứ thực hiện một chế độ bầu cử mới thực sự dân chủ.[18] Các nguyên tắc bầu cử theo quy định của pháp luật gồm bốn nguyên tắc đó là phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.

Điều 7 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 quy định: "Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín".

Những nguyên tắc bầu cử ở Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành phù hợp với các nguyên tắc bầu cử thông dụng trên thế giới.

Trình tự tiến hành bầu cử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo những quy định trong Luật bầu cử Việt Nam, trình tự tiến hành cuộc bầu cử tại Việt Nam là vấn đề trung tâm trong việc bầu cử. Đó là một loạt các công việc từ ấn định ngày bầu cử, thành lập đơn vị bầu cử, thành lập các tổ chức phụ trách bầu cử, công tác chuẩn bị bầu cử cho đến việc lập danh sách cử tri, cư tri thực hiện bỏ phiếu và việc kiểm phiếu, công bố kết quả. Đó cũng là một quy trình chặt chẽ được pháp luật quy định nghiêm ngặt.[5][6][7] Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003[8] và cho đến các văn bản dưới luật như Nghị định của Chính phủ cụ thể hóa và hướng dẫn chi tiết các văn bản nêu trên.[9]

Pháp luật hiện hành đề cao vai trò của Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân. Mặt trận tổ quốc là chủ thể duy nhất lập danh sách ứng cử viên đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

Pháp luật quy định việc tự ứng cử của công dân nếu đủ điều kiện về độ tuổi,năng lực và sự tín nhiệm của cử tri. Những ứng cư viên này được Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu về các nơi ở cơ sở và nơi côngtác để họ đuợc góp ý trước khi được mặt trận tổ quốc hiệp thương lập danh sách ứng cử viên chính thức.

Quy định mới đối với việc bầu cử Hội đồng nhân dân[sửa | sửa mã nguồn]

Việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được thực hiện theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và các văn bản hướng dẫn thi hành. Nhìn chung, trình tự, thủ tục không khác biệt nhiều so với việc bầu cử đại biểu Quốc hội. Chỉ khác biệt đó là phạm vi bầu cử (bầu cử Quốc hội diễn ra trên phạm vi toàn quốc), thành phần tổ chức bầu cử (việc bầu cử Quốc hội do các tổ chức ở cấp trung ương đảm nhiệm). Chính vì vậy mà thực tế các cuộc bầu cử hội đồng nhân dân các cấp thường gộp chung, thậm chí gộp chung với cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội.

Ở Việt Nam, Hội đồng nhân dân được tổ chức làm ba cấp[19][20]

  • Hội đồng nhân dân cấp tỉnh: Bao gồm Hội đồng nhân dân của các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương[21]
  • Hội đồng nhân dân cấp huyện: Bao gồm Hội đồng nhân dân các huyện (ví dụ: Hội đồng nhân dân huyện Gio Linh), quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (Ví dụ: Hội đồng nhân dân thành phố Đông Hà).
  • Hội đồng nhân dân cấp xã: Bao gồm Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (ví dụ Hội đồng nhân dân thị trấn Gio Linh).

Theo Luật bầu cử Hội đồng nhân dân năm 2003 thì việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân được diễn ra ở cả ba cấp. Cử tri ở mỗi cấp sẽ bầu ra những người đại diện cho mình.

Tuy nhiên, ngày 15 tháng 11 năm 2008, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 26/2008/QH12 về việc thự hiện thí điểm không tổ chức hội đồng nhân dân huyện, quận, phường.[22]

Theo đó, bắt đầu từ ngày 25 tháng 4 năm 2009, sẽ không tổ chức Hội đồng nhân dân ở một số quận, huyện, phường, cụ thể là 67 huyện, 32 quận và 483 phường của 10 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.[23]

Đối với các quận, huyện, phường còn lại thì vẫn tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân tại đó như bình thường.

Với việc ban hành quy định mới này thì trong nhiệm kỳ tiếp theo, cử tri ở một số quận, huyện, phường sẽ không phải bỏ phiếu để bầu ra hội đồng nhân dân tại những đơn vị đó. Đây là những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam trong công cuộc cải cách hành chính, giảm bớt các cơ quan đại biểu trung gian hoạt động không hiệu quả, giảm bớt sự cồng kềnh trong bộ máy nhà nước, tiết kiệm ngân sách cho quốc gia.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Xung quanh việc bầu cử ở Việt Nam, có nhiều nhận định khác nhau về vấn đề này

Theo các nhà chức trách hữu quan[sửa | sửa mã nguồn]

Nhận định về bầu cử ở Việt Nam, các nhà chức trách hữu quan đều có nhũng đánh giá hết sức lạc quan về việc bầu cử, dựa trên những con số thống kê, báo cáo tổng kết về kết quả bầu cử các kỳ. Theo đó, kết quả bầu cử được công bố được cho là khả quan với số lượng cử tri đi bầu luôn đạt hơn 99%.

Ở kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII, theo công bố thì tổng số cử tri đi bầu cử là 56.252.543 người trên tổng số 56.467.532 cử tri của của cả nước, đạt 99,64%.

Chưa ghi nhận trường hợp gian lận trong bỏ phiếu. Tổng số phiếu bầu: 56.252.543 phiếu. Số phiếu hợp lệ: 55.802.444 phiếu (99,20%). Số phiếu không hợp lệ: 450.099 phiếu (0,80%).[24]

Cơ cấu đại biểu được bầu cũng được cho là tích cực với Tỷ lệ đại biểu quốc hội, hội đồng nhân dân là nữ giới chiếm tỷ lệ khá cao. Tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội liên tiếp tăng trong 3 khoá liền và đạt 27,31% ở khoá XI, đứng thứ nhất ở khu vực Châu á và thứ 9 trong 135 nước trong Liên minh Quốc hội thế giới.[25] Trong kỳ bẩu cử Quốc hội khóa XII, tỷ lệ đại biểu là phụ nữ 127 người (chiếm 25,76%), dân tộc thiểu số 87 người (17,65%)...

Đối với các cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân cũng có những số liệu tương tự như: Kỳ bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân ba cấp nhiệm kỳ 2004 – 2009 Tổng số cử tri cả nước: 51.551.349 người Số đại biểu được bầu: 3.869 (cấp tỉnh), 23.554 (cấp huyện), 284.507(cấp xã). Số người được giới thiệu ứng cử: 6.052 (cấp tỉnh), 36.281 (cấp huyện), 441.856 (cấp xã). Số người tự ứng cử: 77 (cấp tỉnh), 137 (cấp huyện), 851 (cấp xã). Tỷ lệ ứng cử viên nữ: 32,4% (cấp tỉnh), 30,6% (cấp huyện), 26.4% (cấp xã). Tỷ lệ ứng cử viên ngoài Đảng: 24.3% (cấp tỉnh), 25.9% (cấp huyện), 42% (cấp xã). Số khu vực bỏ phiếu: 87.239.[26]

Với những số liệu đó, nhà cầm quyền cho rằng kết quả bầu cử đã phản ánh "ý nguyện và sức mạnh toàn dân", thể hiện qua việc số cử tri đi bầu cao hơn, kể cả những vùng miền có khó khăn do địa bàn và thời tiết, "không khí dân chủ cao hơn", trong ước muốn xây dựng một Quốc hội mạnh hơn, đủ sức quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước trong thời kỳ hội nhập. Trong ngày bầu cử, "đất trời nước Việt vui cùng lòng người". Trong không khí dân chủ, trách nhiệm và phấn khởi, mỗi người dân như "thấy rõ hơn khát vọng của mình nơi khát vọng dân tộc", và cùng đó, thấy rõ hơn những đòi hỏi cao trong sự lựa chọn trước khi gửi lá phiếu bầu vào "niềm hy vọng và tin tưởng lớn".

Các nhà chức trách đều khẵng định các cuộc bầu cử đề diễn ra thành công tốt đẹp, kết quả cuộc bầu cử thể hiện tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam, sự tin tưởng của nhân dân vào đường lối đổi mới của Đảng, là sự phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Các cuộc bầu cử đều đảm yêu cầu dân chủ, đúng luật, an toàn, tiết kiệm.[27]

Hòa trong niềm vui chung khi được trúng cử, đại biểu Nông Ðức Mạnh phát biểu: "Tôi hy vọng Quốc hội khóa XII sẽ là Quốc hội của những đại biểu có đức, có tài, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, góp phần xây dựng một Quốc hội thực sự vững vàng, đưa Việt Nam tiếp tục phát triển nhanh hơn, bền vững hơn".[28]

Phương tiện truyền thông trong nước[sửa | sửa mã nguồn]

Trong mỗi kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, các phương tiện truyền thông trong nước đề tham gia tích cực vào quá trình đưa tin về diễn biến và kết quả bầu cử.

Trang nhất của các tờ báo ở Việt Nam như báo Nhân dân, Người Lao động, Lao Động, Tuổi Trẻ, Sài Gòn giải phóng, Pháp luật.... cho đến các tờ báo liên về quảng cáo, thể thao... đều đồng lọat đưa tin, bài, phóng sự, ảnh về cuộc bầu cử.

Các phương tiện truyền thông như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói dân dân Việt Nam, các đài truyền hình, đài tiếng nói ở từng địa phương đồng loạt đưa tin, cập nhật thông tin về bầu cử. phản ánh quang cảnh "tấp nập, đông vui" tại khắp các điểm bỏ phiếu.[29]

Các Trang thông tin điện tử cũng đồng lọat đăng tải các hình ảnh, bài viết, tin tức, bình luận, nhận định của công chúng đối với các cuộc bầu cử. Như VietNamNet[30][31] Lao Động[32]....

Nhìn chung, các phương tiện truyền thông đề tuyên truyền, cổ vũ cho các kỳ đại biểu quốc hội và hội đồng nhân dân. Tất cả đều nhấn mạnh vị trí, vai trò, tầm quan trọng của cuộc bầu cử, sự nhiệt tình tham gia bầu cử của nhân dân.

Một số thuật ngữ thường nhắc đến khi đưa tin về bầu cử là: bầu cử là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong việc xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì dân, "Ngày hội lớn của quyền làm chủ đất nước". Không khí bầu cử luôn "hân hoan", "phấn khởi", "tưng bừng"….

Nhưng cũng có một số phương tiện truyền thông có ý kiến cho rằng, với sự băn khoăn của xã hội đối với phẩm chất năng lực của nhiều đại biểu các cấp như hiện nay, không thể nói rằng chất lượng các cuộc bầu cử đó không có vấn đề, không trực tiếp thì gián tiếp,[33] và đã đến lúc cần thiết nên tiến hành tổ chức các diễn đàn đối thoại trực tiếp công khai giữa các ứng cử viên với nhân dân để từ đó người dân có thêm điều kiện lựa chọn khách quan sáng suốt, chính xác nhất những người mà mình sẽ bầu vào cơ quan quyền lực tối cao của Nhà nước.[34]

Phương tiện truyền thông quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Bầu cử ở Việt Nam được sự quan tâm khá sát sao của giới truyền thông quốc tế. Như cuộc bầu cử Quốc hội khoá XII được nhiều phương tiện truyền thông lớn trên thế giới đưa tin.[35][36][37]

Đài Truyền hình NHK của Nhật Bản đã dành thời lượng 3 phút để đưa tin về cuộc bầu cử Quốc hội của Việt Nam. Kênh truyền hình NHK cũng sẽ dành thời gian 30 phút để nói về sự kiện này.

Đưa tin về cuộc bầu cử, hãng Reuters nhận xét: chính sách đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam đã mở cửa cho nên kinh tế, cho cải tổ thị trường và cạnh tranh, giúp cải thiện mức sống của người dân.[29]

Bên cạnh việc đưa tin, bài về diễn biến và kết quả bầu cử, một số phương tiện truyền thông quốc tế cũng đã có những chỉ trích về bầu cử ở Việt Nam.

Theo phóng viên Bill Hayton của BBC, những ứng cử viên phải được Đảng cộng sản thông qua,[38] sự kiểm soát này có nghĩa bất cứ ai mà quan điểm không được đảng Cộng sản chấp nhận sẽ không có cơ hội để ra ứng cử [38].

Đối với tổng tuyển cử, vì các ứng cử viên phải qua đến ba lần Hiệp thương tổng tuyển cử của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên có chỉ trích cho rằng đây chỉ là quá trình thanh lọc các ứng cử viên ngoài Đảng có tâm huyết.[39]

BBC trích lời ông Nguyễn Văn Yểu phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam: "Ở các nước khác có chế độ tranh cử, ở Việt Nam không có tranh cử mà là vận động bầu cử và theo quy định".[40] "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam với đại diện cao nhất là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, theo điều 4 Hiến pháp 1992 là lãnh đạo Nhà nước và xã hội".[40]

Theo BBC thì chính vì nhiều trường hợp chỉ có một ứng cử viên duy nhất, và người ứng cử viên đó đã thông qua một số thử thách, khảo nghiệm, giám sát, chất vấn từ các thành viên Quốc hội, cũng như trong những quá trình làm việc họ đã gây được uy tín và tạo được sự tin tưởng của Quốc hội rằng họ có khả năng làm việc hiệu quả, nên số phiếu tán thành thường rất cao, hầu hết trên 90%.

BBC còn cho rằng nhân sự cấp cao ở Việt Nam với các chức vụ Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch quốc hội thường đã được Đảng Cộng sản lựa chọn trước thông qua một quá trình khảo nghiệm, giám sát, xem xét cách làm việc, và dựa trên ý kiến chung, việc đưa ra để Quốc hội bầu cử mang nặng tính hình thức hơn là một cuộc bầu cử thật sự.[41]

Họ nhận định bầu cử ở Việt Nam thực chất là bỏ phiếu tín nhiệm, vì các chức vụ đều do Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ định trước dựa trên ý kiến của mọi người và thông qua quá trình giám sát khả năng làm việc của các nhân vật.

Một số ý kiến của các nhà nghiên cứu[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nhà nghiên cứu cho rằng,[42][43] dù có nhiều điểm tiến bộ, tuy nhiên, cùng với thời gian, thể chế bầu cử ở Việt Nam đã bộc lộ một số nhược điểm cơ bản như:

Quá nhấn mạnh về tính tập trung, thống nhất, biểu hiện cụ thể là số lượng đại biểu Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân chủ yếu được bầu theo dự kiến, theo sự định hướng của lãnh đạo Đảng các cấp. Việc tuyệt đối hoá quan điểm của cấp uỷ trong việc lựa chọn các đại biểu của các tầng lớp nhân dân nhiều khi thể hiện được sự thống nhất, đảm bảo cơ cấu, nhưng thiếu toàn diện.

Trên thực tế, phương pháp này được thể hiện là bệnh hình thức, áp đặt cơ cấu thành phần đại biểu một cách bình quân, máy móc, xơ cứng, không phát huy được tính tích cực của quần chúng nhân dân trong việc lựa chọn người đại diện xứng đáng nhất cho mình. Vì thế, nhiều khi trong các cuộc bầu cử còn có biểu hiện mang tính phong trào, hình thức. Do đó, có nhiều đại biểu được bầu tuy đủ phẩm chất, tư cách nhưng lại không hẳn là đại biểu xứng đáng nhất của nhân dân. Trong tổng số 493 đại biểu được đắc cử ở kỳ họp Quốc hội khóa 12, 92% là đảng viên đảng cộng sản tức đảng cầm quyền.

Ở một số nơi, việc cố gắng thực hiện các dự kiến của cấp uỷ dẫn tới sự không thống nhất, đặc biệt là ở cơ sở. Có người được cấp uỷ giới thiệu nhưng cử tri không bầu, đại biểu có thể được cử tri bầu thì không được giới thiệu hoặc công nhận...Những đại biểu trúng cử theo cách như vậy rất khó làm việc với dân, mặt khác, lại gây mất lòng tin của dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Ngoài ra, quá trình hiệp thương còn nặng về hợp thức hoá sự chỉ đạo định hướng từ cấp trên. Cử tri ở cơ sở bị rơi vào tình thế bị động, không được giới thiệu người mình tín nhiệm. Mặc dù pháp luật hiện nay có quy định cho người tự ứng cử, nhưng những quy định này cũng chưa đảm bảo công bằng, bình đẳng và chưa đảm bảo rằng người tự ứng cử là người được nhân dân tín nhiệm (chưa có một số lượng nhất định chữ ký hợp pháp của cử tri ủng hộ, như ở nhiều nước).

Việc tự ứng cử, cho đến nay còn chưa được quy định chặt chẽ, thậm chí còn tùy tiện. Về chủ trương, thể chế và tâm lý xã hội vẫn chưa thật sự sẵn sàng cho các cá nhân tự ứng cử. Cơ cấu cho đại biểu tự ứng cử rất thấp (khoảng 10% cho đại biểu Quốc hội lần thứ XII).

Và thể chế bầu cử ở Việt Nam, đặc biệt là những thay đổi từ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XI và vào Hội đồng nhân dân ba cấp năm 2004, đã bộc lộ nhiều điểm hạn chế, đã từng rút kinh nghiệm, nhưng Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội vẫn chưa có những điều chỉnh thích hợp, nhiều điểm chưa đáp ứng được sự chờ đợi của nhân dân, nhất là mâu thuẫn giữa cơ cấu và chất lượng, vấn đề "số dư tương đối lớn" và chuẩn mực "ít nhất từ hai chọn một", vấn đề tự ứng cử, tỉ lệ, chất lượng và tiêu chí giữa đại biểu Quốc hội chuyên trách và không chuyên trách...

Trong điều kiện một Đảng cầm quyền như ở Việt Nam, việc không cho phép hoặc không khuyến khích đảng viên tự ứng cử là một hạn chế, đồng thời cũng làm thu hẹp khả năng lựa chọn của cử tri.

Việc lấy ý kiến cử tri nơi công tác và nơi cư trú thường xuyên chưa phản ánh thực chất quyền dân chủ của nhân dân. vì cử tri còn thụ động, họ chỉ được bày tỏ tín nhiệm đối với những người đã có sẵn trong danh sách. Sự tín nhiệm này cũng chỉ mới so với tiêu chuẩn cần thiết (tư cách) của người đại biểu chứ chưa phải là người cử tri lựa chọn trong số những người tốt nhất, xứng đáng hơn giới thiệu ra ứng cử. Đại biểu, đặc biệt là đại biểu Quốc hội nếu mới chỉ nhận được sự "đảm bảo" tư cách của cử tri nơi công tác và nơi cư trú thường xuyên thì chưa đủ, còn phải có sự "đảm bảo" rộng rãi hơn.

Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật Bầu cử Hội đồng nhân dân quy định danh sách ứng cử viên phải nhiều hơn số lượng đại biểu được bầu, nhưng không nói rõ phải nhiều hơn số tối thiểu là bao nhiêu, nên chưa thực sự dân chủ và khoa học. Thông thường, số ứng cử viên chỉ nhiều hơn số đại biểu được bầu 1 đến 2 người vì vậy chưa tạo điều kiện cho cử tri trong việc lựa chọn.

Trong các cuộc bầu cử, còn thiếu các cuộc vận động tranh cử và cũng thiếu các chế định cho việc vận động tranh cử. Đại biểu đắc cử chủ yếu phụ thuộc vào định hướng của lãnh đạo, vào cơ cấu chứ không phải vì năng lực và chương trình hành động của họ được thể hiện qua vận động tranh cử.

Giáo sư Trịnh Duy Luận, một nhà xã hội học ở Học viện Khoa học Xã hội Việt Nam nói điều có thật là một người đi bầu cho cả nhà chứng tỏ người dân Việt Nam không thiết tha gì đến quyền công dân của mình. Và nó chứng tỏ nhà nước Việt Nam không làm cho người dân hiểu quyền lợi và nghĩa vụ của họ như thế nào. Dĩ nhiên, tất cả những nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đều tái đắc cử. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được số phiều bầu cao nhất trong những ứng cử viên với 99.1%.

Nhưng chính sự thiếu ủng hộ cho những ứng cử viên ngoài đảng và những ứng cử viên độc lập đã làm cho mọi người chú ý đến lần bầu cử kỳ này. Cuộc bầu cử quốc hội năm 1977, đã có ba ứng cử viên độc lập đắc cử. Năm năm trước có hai ứng cử viên viên độc lập đắc cử. Nhưng trong kỳ bầu cử khóa XII chỉ có một người tự ứng cử. (ở Nghệ An)[44] Hầu hết các nhà phân tích đồng ý rằng cuộc bầu cử quá thiên vị cho những ứng cử viên của đảng đến nỗi đại chúng cử tri thấy chả có ích lợi gì để đi bầu.

Nhưng quốc hội gồm 500 đại biểu dùng để đánh giá những quyết định của chế độ cộng sản, giờ đây sẽ chỉ có một đại biểu duy nhất không là đảng viên hoặc là người không được đảng đề cử.[45]

Bên cạnh đó thì cơ chế tự ứng cử cũng có những nhược điểm nhất định như: những thủ tục, điều kiện tự ra ứng cử (ví dụ như phải thu thập chữ ký cử tri, phải đóng tiền…) chưa thật sự chặt chẽ. Tiêu chuẩn đại biểu còn chung chung, chưa định lượng một cách cụ thể nên cử tri cũng không hình dung được người mình bầu có đáp ứng được mong đợi của mình không. Còn người tự ứng cử cũng cứ nghĩ mình có điều kiện như vậy là làm đại biểu được. Quy định về vận động bầu cử chưa tạo điều kiện cho người được đề cử và cả người tự ứng cử có cơ hội bình đẳng như nhau trên các kênh thông tin truyền thông, rồi điều kiện để tiếp xúc, xâm nhập với thực tiễn, gần gũi với cử tri...[44]

Ông Nguyễn Văn An nguyên Chủ tịch Quốc hội Việt Nam cho rằng nếu "không có tranh cử, dân sẽ không có cơ hội lựa chọn cương lĩnh và nguyên thủ. Làm như lâu nay thì chưa thật dân chủ trong Đảng, cũng chưa thật dân chủ trong dân, còn mang nhiều tính hình thức, thụ động, dân ít quan tâm." Để giải quyết lỗi hệ thống này, ông An đưa ra giải pháp rằng "có thể có nhiều đồng chí đưa ra những cương lĩnh tranh cử khác nhau, dăm ba cương lĩnh chẳng hạn, sau đó trong Đảng lựa chọn ra hai ba cương lĩnh tranh cử để đưa ra dân lựa chọn, như sự tranh cử trong nội bộ một Đảng của các nước có đa đảng tham chính. Như vậy, dân sẽ có cơ hội lựa chọn cương lĩnh tranh cử và người đứng đầu cương lĩnh để trở thành cương lĩnh phát triển của đất nước và nguyên thủ quốc gia trong một nhiệm kỳ xác định...

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2001)
  • Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội (ban hành năm 1997 đã được sửa đổi bổ sung vào năm 2001 và năm 2007)
  • Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2003
  • Nghị định số 81-CP ngày 01/8/1994 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân (sửa đổi).
  • Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 1999
  • Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, năm 1999
  • Chế độ bầu cử của một số nước trên thế giới, Vũ Hồng Anh, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1997
  • Góp phần nghiên cứu Hiến pháp và Nhà nước pháp quyền, Bùi Ngọc Sơn, Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2005
  • Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử ở nước ta, Phan Xuân Sơn, Tạp chí Khoa học pháp lý - Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, số 03 năm 2005.
  • Tự do, công bằng trong bầu cử và liên hệ với bầu cử ở Việt Nam, Lưu Đức Quang, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội, số 89, năm 2007.
  • Hỏi đáp về việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009 (Tài liệu được xuất bản theo Quyết định cho phép xuất bản số 480/GP-STTTT của Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/4/2009)
  • Các văn bản quy phạm pháp luật về việc thực hiện thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thành phố Hồ Chí Minh, năm 2009 (Tài liệu được xuất bản theo Quyết định cho phép xuất bản số 481/GP-STTTT của Sở Thông tin và Truyền thông Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/4/2009)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Điều 85 Hiến pháp Việt Nam năm 1992
  2. ^ “Chi tiết văn bản pháp quy”. Chinhphu.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  3. ^ Giáo trình Hiến pháp Việt Nam, trang 329
  4. ^ Giáo trình Luật Hiến pháp nước ngoài, trang 63
  5. ^ a ă http://www.chinhphu.vn/portal/page?_pageid=578,33345598&_dad=portal&_schema=PORTAL&docid=3409
  6. ^ a ă “Chi tiết văn bản pháp quy”. Chinhphu.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  7. ^ a ă “Chi tiết văn bản pháp quy”. Chinhphu.vn. 27 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  8. ^ a ă “Chi tiết văn bản pháp quy”. Chinhphu.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  9. ^ a ă “Chi tiết văn bản pháp quy”. Chinhphu.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  10. ^ Điều 54 Hiến pháp Việt Nam năm 1992
  11. ^ Điều 2 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội
  12. ^ Người đang bị tạm giam nói trên là những bị can, bị cáo trong các vụ án hình sự, tuy chưa phải là những người bị Tòa án kết án nhưng họ bị hạn chế quyền tự do để điều tra, xét xử hoặc để bảo đảm thi hành án phạt tù
  13. ^ Điều 23 Luật bầu cử đại biểu quốc Hội
  14. ^ Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 1078/2007/NQ-UBTVQH11, ngày 29/01/2007 về quy định cụ thể những người được quyền bầu cử, những người không được quyền bầu cử; những người được quyền ứng cử, những người không được quyền ứng cử đại biểu Quốc hội
  15. ^ Nghị quyết số 1077/2007/NQ/UBTVQH11 ngày 29-01-2007 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội công bố ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII và thành lập Hội đồng bầu cử
  16. ^ Phan Bình Giang (20 tháng 4 năm 2010). “Nghệ An”. Nghean.gov.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  17. ^ http://www.sonoivu.binhthuan.gov.vn/web/data/news/2007/3/895/Nghiquyet1077.pdf
  18. ^ Giáo trình Hiến pháp Việt Nam, trang 334
  19. ^ Điều 4 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003
  20. ^ “Chi tiết văn bản pháp quy”. Chinhphu.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  21. ^ Ở Việt Nam hiện nay có 05 thành phố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng và Cần Thơ
  22. ^ http://www.govap.hochiminhcity.gov.vn/web/data/news/2009/4/3487/NQ%2026-2008-QH.pdf
  23. ^ http://www.govap.hochiminhcity.gov.vn/web/data/news/2009/4/3488/NQ%20724.pdf
  24. ^ “Bầu cử quốc hội”. Baucukhoa12.quochoi.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  25. ^ http://www.ubphunu-ncfaw.gov.vn/?lang=V&func=newsdt&catid=151&newsid=997&MN=65
  26. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên vne
  27. ^ “Bầu cử quốc hội”. Baucukhoa12.quochoi.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  28. ^ “Bầu cử quốc hội”. Baucukhoa12.quochoi.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  29. ^ a ă “Bầu cử quốc hội”. Baucukhoa12.quochoi.vn. 21 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  30. ^ Chính trị. “VietNamNet”. Vietnamnet.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  31. ^ Chính trị (19 tháng 5 năm 2007). “VietNamNet”. Vietnamnet.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  32. ^ [1][liên kết hỏng]
  33. ^ Tuổi trẻ cuối tuần. Số 8 ngày 4/3/2007
  34. ^ “Chuyên Đề Bầu Cử Quốc Hội Khóa Xii”. Haugiang.gov.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  35. ^ “Báo chí quốc tế viết về bầu cử ở Việt Nam”. Vietnamnet. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  36. ^ “Báo chí quốc tế viết về bầu cử ở Việt Nam - Xã hội - Dân trí”. Dantri.com.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  37. ^ Quốc tế (20 tháng 5 năm 2007). “VietNamNet”. Vietnamnet.vn. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  38. ^ a ă [2] BBC: Kỳ bầu cử và tình hình dân chủ
  39. ^ “Bầu cử Quốc hội, thực trạng và giải pháp”. Bbc.co.uk. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  40. ^ a ă [3] Ông Nguyễn Văn Yểu: Việt Nam không có tranh cử
  41. ^ “BBCVietnamese.com”. Bbc.co.uk. 14 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  42. ^ Phan Xuân Sơn, Thực trạng và giải pháp đổi mới công tác bầu cử ở nước ta, Tạp chí Khoa học pháp lý - Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, số 03 năm 2005
  43. ^ Lưu Đức Quang, Tự do, công bằng trong bầu cử và liên hệ với bầu cử ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp – Văn phòng Quốc hội, số 89, năm 2007
  44. ^ a ă “Bầu cử Đại biểu Quốc hội, ba nhược điểm của cơ chế tự ứng cử”. Phapluattp.vn. 25 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 
  45. ^ “bao singapore: bau cu tai viet nam: mot that vong lon!:: Báo Singapore: Bầu Cử Tại Việt Nam: Một Thất Vọng Lớn!:: Tin Việt Nam”. SBTN. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010. 


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]