Bắc Ninh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bắc Ninh
Tỉnh
Logo Bac Ninh.PNG
Biểu trưng
Trung tâm văn hóa Kinh Bắc.jpg
Trung tâm văn hóa Kinh Bắc
Địa lý
Tọa độ: 21°11′15″B 106°04′24″Đ / 21,187548°B 106,073406°Đ / 21.187548; 106.073406Tọa độ: 21°11′15″B 106°04′24″Đ / 21,187548°B 106,073406°Đ / 21.187548; 106.073406
Diện tích 822,7 km²[1]
Dân số (2011)  
 Tổng cộng 1.079.900 người[1]
 Thành thị 240.987 (2009)
 Nông thôn 783.485 (2009)
 Mật độ 1.313 người/km²
Dân tộc Kinh
 Vị trí Bắc Ninh trên bản đồ Việt Nam
Bac Ninh in Vietnam.svg
Tỉnh Bắc Ninh
Hành chính
Quốc gia Cờ Việt Nam Việt Nam
Vùng Đồng bằng sông Hồng
Tỉnh lỵ Thành phố Bắc Ninh
Thành lập 1 tháng 1, 1997; 17 năm trước
 Chủ tịch UBND Nguyễn Nhân Chiến
 Chủ tịch HĐND Nguyễn Sỹ
 Bí thư Tỉnh ủy Trần Văn Túy
 Trụ sở UBND Số 10, Phù Đổng Thiên Vương, Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh
Đại biểu quốc hội 6
Phân chia hành chính 1 thành phố, 1 thị xã và 6 huyện.
Mã hành chính VN-56
Mã bưu chính 22xxxx
Mã điện thoại 241
Biển số xe 99, 13
Website bacninh.gov.vn

Bắc Ninh là một tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Bắc Ninh tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang. Thành phố Bắc Ninh nằm cách trung tâm Hà Nội 30 km về phía đông bắc. phía tâytây nam giáp thủ đô Hà Nội, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đôngđông nam giáp tỉnh Hải Dương, phía nam giáp tỉnh Hưng Yên. Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng Thủ đô. Ngoài ra, Bắc Ninh còn nằm trên 2 hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng NinhNam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.

Bắc Ninh là tỉnh nổi tiếng với dân ca quan họ. Bắc Ninh là trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa[2]. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý trong năm được duy trì. Trong đó có những lễ hội lớn như: hội chùa Dâu, hội Lim, hội đền Đô, hội đền Bà Chúa Kho[3]. Con người Bắc Ninh với truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian... nổi bật là những làn điệu dân ca quan họ[4][5][6].

Bắc Ninh có định hướng trở thành vùng đô thị lớn: Văn hiến, văn minh, giàu bản sắc (của văn hóa Kinh Bắc), hiện đại, sinh thái và bền vững, trên nền tảng kinh tế trí thức; có cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại; có môi trường sống tiện nghi, trong lành đáp ứng nhu cầu vật chất ngày một cao của nhân dân[6]. Đến năm 2020, Bắc Ninh đạt tiêu chí đô thị loại I, trở thành TP trực thuộc Trung ương[7]. Điều chỉnh, cải tạo, nâng cấp các KĐT, KCN cũ theo hướng hiện đại, bền vững, gắn chương trình phát triển nông thôn mới với lộ trình phát triển đô thị toàn tỉnh theo phương châm "Chùm đô thị hướng tâm, nhất thể hóa đô thị nông thôn".

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành Bắc Ninh 1 trong 4 thành trong Thăng Long tứ trấn

Bắc Ninh hình thành lâu đời gắn liền với nền Văn minh sông Hồng. Luy Lâu từng là trung tâm kinh tế - chính trị, tôn giáo cổ xưa nhất của Việt Nam.

Từ mấy nghìn năm trước người Việt cổ đã cư trú và lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Vương sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp kết hợp làm nghệ thủ công. Hàng loạt di vật như trống đồng, dao găm, rìu, giáo, tấm che ngực, mảnh giáp bằng đồng với những hoa văn độc đáo được tìm thấy ở các di tích Lăng Ngâm, Đại Trạch, Quả Cảm, Đại Lai mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đã chứng tỏ người xứ Bắc rất tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tác các đồ trang sức, làm gốm.[8] Những giá trị tinh thần, tư tưởng được phản ánh qua các huyền thoại ông Đùng, bà Đùng, ông khổng lồ cắn nát núi, hút sạch rừng, băng ngang lũ; về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương, Mỵ Châu - Trọng Thuỷ và thành cổ Loa. Cùng với huyền thoại truyền thuyết là đậm đặc các di tích tiêu biểu như lăng mộ Kinh Dương Vương, các đền thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du.

Thời kỳ Hồng Bàng, nước Văn Lang được chia làm có 15 bộ, bộ Vũ Ninh là vùng lãnh thổ thuộc phần lớn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Trong thời Bắc thuộc, Giao Chỉ gồm có 10 huyện trong đó có huyện Luy Lâu. Luy Lâu đã từng là đô thị lớn, là trung tâm thương mại trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ thứ II đến thế kỷ IX-X. Xung quanh Luy Lâu là các làng nông nghiệp, làng thủ công, làng buôn bán phát triển. Tại đây, tư tưởng Nho giáo và văn hoá Hán Đường đã được truyền bá liên tục vào Việt Nam. Trung tânm Luy Lâu là nơi đầu tiên có trường dạy chữ và văn hoá Hán ở Việt Nam. Ngoài ra Luy Lâu còn là trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất của người Việt. Hệ thống di tích, chùa tháp quần tụ đậm đặc ở đây với trung tâm là chùa Dâu cùng nhiều nguồn di vật, tài liệu như tượng pháp, bia ký, bản khắc Cổ Châu Pháp Vân và lễ hội chùa Dâu - lễ hội Phật giáo lớn nhất trong đồng bằng Bắc Bộ với các nghi lễ Tân Phật, rước Tứ Pháp, rước nước chứng tỏ Luy Lâu là tổ đình của Phật giáo Việt Nam. Luy Lâu là không gian điển hình đan xen, hỗn dung tiếp xúc, biến đổi hội tụ và kết tinh văn hoá Việt Nam cổ với văn hoá Phật - Ấn, Nam Á và Trung Á, văn hoá Nho Lão (Trung Hoa - Đông Á) để rồi sinh thành bản sắc văn hoá Kinh Việt. Đến thời Ngô Quyền, Giao Châu gồm các vùng phía nam sông Hồngsông Đuống, thuộc Hà Nội, Bắc Ninh, một phần Hưng Yên.

Thời loạn 12 sứ quân, địa bàn Bắc Ninh là nơi chiếm đóng của 2 sứ quân Nguyễn Thủ TiệpLý Khuê với các căn cứ ở Tiên Du và Thuận Thành.

Các vua thời Lý lập Phủ Thiên Đức (vốn là châu Cổ Pháp). Bắc Ninh là đất phát tích nhà Lý - triều đại khai mở ra nền văn minh Đại Việt gắn liền với tên tuổi của những nhân vật lịch sử - văn hoá kiệt xuất như: Lý Công Uẩn, Lý Nhân Tông, Nguyên Phi Ỷ Lan, Lê Văn Thịnh. Đây là nơi vang vọng bài thơ Nam quốc sơn hà- bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam.

Cuối thời Trần, cả nước có 24 đơn vị hành chính. Lộ Bắc Giang bao trùm Bắc Ninh và một phần Hà Nội, Bắc Giang ngày nay, gồm có 3 châu, lộ trực tiếp quản lý 2 huyện Siêu Loại và Gia Lâm. Châu Gia Lâm gồm 3 huyện: An Định (Gia Bình hiện nay), Tế Giang (Văn Giang hiện nay), Thiện Tài (Lương Tài hiện nay). Châu Vũ Ninh gồm 5 huyện: Tiên Du (Tiên Du hiện nay), Vũ Ninh (Võ Giàng hiện nay), Đông Ngàn (Từ Sơn và một phần Sóc Sơn thuộc Hà Nội hiện nay), Từ Sơn (Quế Võ hiện nay), Yên Phong (Yên Phong hiện nay). Châu Bắc Giang gồm 3 huyện Tân Phúc (Đa Phúc cũ, một phần Sóc Sơn hiện nay), Phật Thệ (Hiệp Hòa thuộc Bắc Giang hiện nay), Yên Việt (Việt Yên hiện nay).

Năm 1490, vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước, gồm 13 (đạo) xứ thừa tuyên. Trong đó, trấn (xứ) Kinh Bắc gồm 4 phủ (20 huyện), hiện nay bao gồm toàn bộ ranh giới 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh thành lân cận là Hà Nội (toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng).

Thời Minh Mạng, cả nước được chia thành 31 đơn vị hành chính: phủ Thừa Thiên là trung tâm, các trấn (tên đơn vị hành chính thời Hậu Lê và Tây Sơn) được đổi thành 30 tỉnh. Việc lập các tỉnh được thực hiện trong 2 đợt. Đợt đầu tiên vào năm 1831, Minh Mạng thực hiện chia các trấn phía bắc làm 18 tỉnh. Tỉnh Bắc Ninh được thành lập (nay là Bắc Ninh và Bắc Giang, một phần đất Hà Nội và Vĩnh Phúc này nay).

Bắc Ninh là cửa ngõ của cố đô Thăng Long, là vùng đất trung chuyển giữa kinh đô xưa với miền địa đầu giáp giới Trung Quốc. Do có đường quốc lộ lên ải Bắc chạy qua, nên vị trí quân sự của Bắc Ninh cực kỳ hệ trọng. Chính vì thế, mùa xuân 1884, Pháp đánh thành Bắc Ninh hoàn thành gấp công cuộc thống trị và bảo hộ Việt Nam. Năm 1895, tách phủ Lạng Giang ra lập tỉnh Bắc Giang. Năm 1903, tách các huyện Đông Anh, Kim Anh, Đa Phúc nhập vào tỉnh Vĩnh Yên. Năm 1960, huyện Văn Giang của Bắc Ninh được tách sang tỉnh Hưng Yên. Ngày 20 tháng 4 năm 1961, tách huyện Gia Lâm nhập vào Hà Nội.

Vào năm 1963, tỉnh Bắc Ninh được sát nhập với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc; cùng lúc đó, 2 huyện Tiên Du và Từ Sơn hợp nhất thành huyện Tiên Sơn, 2 huyện Quế DươngVõ Giàng hợp nhất thành huyện Quế Võ. Mặc dù không còn vị trí tỉnh lỵ như trước đây (lúc đó Bắc Giang trở thành tỉnh lỵ của tỉnh mới sát nhập), nhưng thị xã Bắc Ninh vẫn là một trung tâm kinh tế - xã hội quan trọng của Hà Bắc, nhất là trong mối quan hệ giao lưu với thủ đô Hà Nội.[9].

Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Ninh chính thức được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 (ngày 06 tháng 11 năm 1996).[10] Khi tách ra, tỉnh Bắc Ninh có 6 đơn vị hành chính gồm: thị xã Bắc Ninh (tỉnh lị) và 5 huyện: Gia Lương, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Sơn, Yên Phong.

Ngày 9 tháng 8 năm 1999, chia huyện Tiên Sơn thành 2 huyện: Tiên DuTừ Sơn; chia huyện Gia Lương thành 2 huyện: Gia BìnhLương Tài.[11]

Ngày 26 tháng 1 năm 2006, chuyển thị xã Bắc Ninh thành thành phố Bắc Ninh.[12]

Ngày 24 tháng 9 năm 2008, chuyển huyện Từ Sơn thành thị xã Từ Sơn.[13]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ hành chính tỉnh Bắc Ninh

Cũng như các tỉnh và thành phố khác của Việt Nam, Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh do người dân thành phố trực tiếp bầu lên, là cơ quan quyền lực nhà nước ở tỉnh. Hội đồng nhân dân tỉnh Bắc Ninh hiện nay, nhiệm kỳ 2011–2016, gồm 50 đại biểu, chủ tịch là ông Nguyễn Sỹ[14]. Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Ninh là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân và là cơ quan hành chính nhà nước ở thành phố, chịu trách nhiệm chấp hành hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Chính phủ và các nghị quyết của hội đồng nhân dân tỉnh. Ngoài các sở, ban như những tỉnh khác, thuộc Ủy ban nhân dân còn có Đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Ninh. Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh là ông Nguyễn Nhân Chiến[15]. Ủy ban nhân dân tỉnh có trụ sở nằm ở số 10, Phù Đổng Thiên Vương, Suối Hoa, thành phố Bắc Ninh.[16]

Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh (Tỉnh ủy) Bắc Ninh bầu Bí thư Tỉnh ủy, hiện nay là ông Trần Văn Túy.[17] được bầu vào đại hội lần thứ XVI (nhiệm kỳ 2010-2015) Quyền hạn và trách nhiệm của Bí thư Tỉnh ủy được quy định theo Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam. Báo Bắc Ninh trực thuộc tỉnh ủy Bắc Ninh.Về mặt quân sự, Bắc Ninh thuộc Quân khu 1.

Ðơn vị hành chính cấp Huyện Thành phố
Bắc Ninh
Thị xã
Từ Sơn
Huyện
Gia Bình
Huyện
Lương Tài
Huyện
Quế Võ
Huyện
Thuận Thành
Huyện
Tiên Du
Huyện
Yên Phong
Diện tích (km²) --- --- --- --- --- --- --- ---
Dân số (người)2009[18] 164 370 140 040 92 269 96 326 135 938 144 536 124 396 126 660
Mật độ dân số (người/km²) --- --- --- --- --- --- --- ---
Số đơn vị hành chính 16 phường và 3 xã 7 phường và 5 xã 1 thị trấn và 13 xã 1 thị trấn và 13 xã 1 thị trấn và 20 xã 1 thị trấn và 17 xã 1 thị trấn và 13 xã 1 thị trấn và 13 xã
Huyện lỵ Suối Hoa Đông Ngàn Gia Bình Thứa Phố Mới Hồ Lim Chờ
Nguồn: Website tỉnh Bắc Ninh

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Địa chất, thủy văn[sửa | sửa mã nguồn]

Địa hình của tỉnh này tương đối phẳng, có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy bề mặt đổ về sông Đuốngsông Thái Bình. Vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3-7 m, địa hình trung du (hai huyện Quế VõTiên Du) có một số dải núi độ cao phổ biến 300–400 m. Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích, chủ yếu ở hai huyện Quế VõTiên Du.

Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sông khá cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km2, có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình. Sông Đuống có chiều dài 42 km nằm trên đất Bắc Ninh, tổng lượng nước bình quân 31,6 tỷ m3. Mực nước cao nhất tại bến Hồ tháng 8/1945 là 9,64m, cao hơn so với mặt ruộng là 3 – 4 m. Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao, vào mùa mưa trung bình cứ 1 m3 nước có 2,8 kg phù sa. Sông Cầu có chiều dài sông Cầu là 290 km với đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 70 km, lưu lượng nước hàng năm khoảng 5 tỷ m3. Sông Cầu có mực nước trong mùa lũ cao từ 3 – 6 m, cao nhất là 8 m, trên mặt ruộng 1 – 2 m, trong mùa cạn mức nước sông lại xuống quá thấp (0,5 - 0,8 m). Sông Thái Bình thuộc vào loại sông lớn của miền Bắc có chiều dài 385 km, đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 17 km[19]. Do phần lớn lưu vực sông bắt nguồn từ các vùng đồi trọc miền đông bắc, đất đai bị sói mòn nhiều nên nước sông rất đục, hàm lượng phù sa lớn. Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy nông nên sông Thái Bình là một trong những sông bị bồi lấp nhiều nhất. Theo tài liệu thực đo thì mức nước lũ lụt lịch sử sông Thái Bình đo được tại Phả Lại năm 1971 đạt tới 7,21 m với lưu lượng lớn nhất tại Cát Khê là 5000 m3/s. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.

Với hệ thống sông này nếu biết khai thác trị thuỷ và điều tiết nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tiêu thoát nước của tỉnh. Trong khi đó tổng lưu lượng nước mặt của Bắc Ninh ước khoảng 177,5 tỷ m3, trong đó lượng nước chủ yếu chứa trong các sông là 176 tỷ m3; được đánh giá là khá dồi dào. Cùng với kết quả thăm dò địa chất cho thấy trữ lượng nước ngầm cũng khá lớn, trung bình 400.000 m3/ngày, tầng chứa nước cách mặt đất trung bình 3–5 m và có bề dày khoảng 40 m, chất lượng nước tốt. Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục vụ chung cho cả sản xuất và sinh hoạt trong toàn tỉnh, trong đó có các hoạt động của đô thị.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Có sự chênh lệch rõ ràng về nhiệt độ giữa mùa hè nóng ẩm và mùa đông khô lạnh. Sự chênh lệch đạt 15-16 °C. Mùa mưa kéo dài từ tháng năm đến tháng mười hàng năm. Lượng mưa trong mùa này chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.400-1.600 mm. Nhiệt độ trung bình: 23,3 °C. Số giờ nắng trong năm: 1.530-1.776 giờ. Độ ẩm tương đối trung bình: 79%.

Dữ liệu khí hậu của Bắc Ninh
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Trung bình cao °C (°F) 19.9 20.4 23
(73)
27.4 31.8 33
(91)
32.8 32.2 31.2 29
(84)
25.6 22.1 27.37
Trung bình ngày, °C (°F) 16.5 17.4 20
(68)
24
(75)
27.7 29.2 29.2 28.8 27.7 25.2 21.6 18.5 23.82
Trung bình thấp, °C (°F) 13.2 14.4 17.1 20.6 23.7 24.6 25.5 25.4 24.2 21.4 17.7 14.9 20.23
Lượng mưa, mm (inches) 12
(0.47)
33
(1.3)
34
(1.34)
87
(3.43)
211
(8.31)
245
(9.65)
332
(13.07)
337
(13.27)
234
(9.21)
98
(3.86)
34
(1.34)
23
(0.91)
1.680
(66,14)
Nguồn: climate-data.org[20]

Tài nguyên, khoáng sản[sửa | sửa mã nguồn]

Tài nguyên rừng không lớn, chủ yếu là rừng trồng. Tổng diện tích đất rừng là 661,26 ha phân bố tập trung ở Quế Võ (317,9 ha) và Tiên Du (254,95 ha). Tổng trữ lượng gỗ ước tính 3.279 m³, trong đó rừng phòng hộ 363 m³, rừng đặc dụng 2916 m³.

Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở Quế Võ và Tiên Du, đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh, đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh, đá sa thạch ở Vũ Ninh - Bắc Ninh có trữ lượng khoảng 300.000 m³. Ngoài ra còn có than bùn ở Yên Phong với trữ lượng 60.000 - 200.000 tấn.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử phát triển
dân số
Năm Dân số
1995 916.000
1996 925.300
1997 931.700
1998 937.600
1999 943.000
2000 950.600
2001 958.900
2002 967.600
2003 975.300
2004 983.200
2005 991.100
2006 999.800
2007 1.009.400
2008 1.018.100
2009 1.026.500
2010 1.041.200
2011 1.060.300
Nguồn:[21]

Năm 2009, dân số Bắc Ninh là 1.024.472 người, chỉ chiếm 1,21% dân số cả nước và đứng thứ 39/63 tỉnh, thành phố, trong đó nam 502.925 người và nữ 521.547 người; khu vực thành thị 240.987 người, chiếm 23,5% dân số toàn tỉnh và khu vực nông thôn 783.485 người, chiếm 76,5%. Mật độ dân số Bắc Ninh năm 2010 đã lên tới 1,262 người/km², gần gấp 5 lần mật độ dân số bình quân của cả nước và là địa phương có mật độ dân số cao thứ 3 trong số 63 tỉnh, thành phố, chỉ thấp hơn mật độ dân số của Hà Nội và của thành phố Hồ Chí Minh[22][23].

Năm 2011, dân số Bắc Ninh là 1.060.300 người, mật độ dân số 1289 người/km², vẫn là tỉnh có mật độ dân số cao thứ 3 cả nước [24]

Bắc Ninh có một dân số trẻ với nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 là 665.236 người, chiếm 64,93% tổng dân số. Nhóm tuổi dưới 15 có 258.780 người, chiếm 25,26% tổng dân số còn nhóm người trên 60 tuổi có 100.456 người, tức chiếm 9,8%[25]

Thành phần dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Trên địa bàn tỉnh hiện có 27 dân tộc trên tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam sinh sống, trong đó Kinh chiếm tuyệt đại đa số. Dưới đây là 3 dân tộc đông dân nhất là:[25]

Dân tộc Dân số
(người)
Tỉ lệ
so với tổng
dân số tỉnh
Dân số đô thị
(người)
Tỉ lệ
so với dân số
dân tộc
Dân số nông thôn
(người)
Tỉ lệ
so với dân số
dân tộc
Kinh 1.021.061 99,67% 249.305 24,42% 781.276 75,58%
Tày 1.484 0,14% 540 36,39% 944 63,61%
Nùng 789 0,08% 253 32% 536 68%

Tôn giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng giống như phần lớn các tỉnh khác tại Miền Bắc Việt Nam, Bắc Ninh có đại đa số cư dân "không tôn giáo". Theo thống kê năm 2009, số người theo có tôn giáo tại tỉnh Bắc Ninh là 16.362 người, tức chiếm 1,6% tổng dân số của tỉnh.[25] Hiện nay, Bắc Ninh có 7 tôn giáo hoạt động là Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Minh Lý đạo,Phật Giáo Hòa HảoCao Đài. Bắc Ninh có 40 xứ đạo Công giáo hoạt động và tất cả các hoạt động Công giáo ở Bắc Ninh đều do Toà Giám mục Giáo phận Bắc Ninh chỉ đạo.[26]

Tôn giáo Tín đồ
người
Tỉ lệ
so với dân số
Công giáo 12.590 1,23%
Phật giáo 3.744 0,37%
Tin Lành 17 -
Tổng số 16.362 1,6%

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1997, khi tái lập tỉnh, Bắc Ninh có cơ cấu nông nghiệp chiếm 45,1%, dịch vụ 31,1%, công nghiệp-xây dựng 23,8%, thu ngân sách 164 tỷ đồng, GDP đầu người 144 USD/năm; có bốn doanh nghiệp FDI với tổng vốn đăng ký 117 triệu USD, kết cấu hạ tầng yếu kém, công nghiệp chỉ có các cơ sở sản xuất nhỏ, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 569 tỷ đồng.[27] Sau năm 1997 kinh tế Bắc Ninh đã phát triển[6]. Giai đoạn 2006-2010 GDP tăng trưởng trung bình 15,3% trong đó có năm 2010 tăng trưởng tới 17.86% (cao nhất từ trước tới nay của tỉnh). Năm 2011, kinh tế Bắc Ninh đạt 16,2% - là tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. Năm 2012, GDP Bắc Ninh tăng trưởng đạt 12,3%.

Năm 2012, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt trên 13.607 tỷ đồng (đứng thứ 9 toàn quốc và thứ 2 khu vực đồng bằng sông Hồng); cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa: Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 77,82%; dịch vụ 16,57%; Nông, lâm nghiệp và thủy sản còn 5,61%[28]. Năm 2012, GDP bình quân đầu người đạt 67,4 triệu đồng/năm (tương đương 3.211 USD)[29] và nằm trong top thu nhập bình quân cao nhất cả nước.

Thu ngân sách nhà nước Bắc Ninh nộp ngân sách lớn thứ 12 cả nước. Năm 2011, ngân sách là 6800 tỷ, đưa Bắc Ninh lần đầu tiên có khả năng tự cân đối ngân sách và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Năm 2012 Bắc Ninh đã đạt tới 9.068,5 tỷ đồng[30].

Tỉnh Bắc Ninh hiện tại có hơn 600.000 người trong độ tuổi lao đông nhưng thiếu lao động có trình độ chuyên môn. Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn.

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2013 ước tăng 11,8% so với năm trước đó (giá so sánh năm 2010); GRDP bình quân đầu người đạt 68,2 triệu đồng/người/năm (tương đương 3.243 USD). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa: khu vực công nghiệp và xây dựng 74,5%; dịch vụ 19,5%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6%.

Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm tính theo giá so sánh 2010 ước 598.770 tỷ đồng, tăng 60,7% so với năm 2012. Khu vực dịch vụ vẫn duy trì tăng trưởng, đặc biệt hoạt động ngoại thương có bước "nhảy vọt" với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 68%. Chất lượng tăng trưởng còn thể hiện khi tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn cả năm ước đạt hơn 36.300 tỷ đồng, tăng 11,5%; thu ngân sách Nhà nước ước đạt hơn 11.530 tỷ đồng, tăng 22,1%.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2013 ước tăng 11,8% so với năm trước đó (giá so sánh năm 2010); GRDP bình quân đầu người đạt 68,2 triệu đồng/người/năm (tương đương 3.243 USD). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa: khu vực công nghiệp và xây dựng 74,5%; dịch vụ 19,5%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6%.

Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm tính theo giá so sánh 2010 ước 598.770 tỷ đồng, tăng 60,7% so với năm 2012. Khu vực dịch vụ vẫn duy trì tăng trưởng, đặc biệt hoạt động ngoại thương có bước "nhảy vọt" với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 68%. Chất lượng tăng trưởng còn thể hiện khi tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn cả năm ước đạt hơn 36.300 tỷ đồng, tăng 11,5%; thu ngân sách Nhà nước ước đạt hơn 11.530 tỷ đồng, tăng 22,1%.

Công nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là động lực quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế của Bắc Ninh trong những năm vừa qua[6]. Khi tách tỉnh, Bắc Ninh là một tỉnh thuần nông với nền công nghiệp không đáng kể đa phần là làng nghề. Tuy nhiên hết năm 2012, Bắc Ninh là tỉnh có quy mô công nghiệp lớn thứ 5 cả nước, thứ 2 miền Bắc và luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước trong nhiều năm qua. Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 84.884 tỷ đồng (CĐ1994).Động lực cho tăng trưởng công nghiệp của Bắc Ninh tập trung ở các doanh nghiệp công nghệ cao như SamSung, Canon, Nokia.

Đầu tư[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2011, Bắc Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 2 ở Việt Nam[31]. Bắc Ninh đã thu hút được hầu hết các dự án công nghệ cao của cả nước như Canon, SamSung, Nokia, ABB.

  • Đầu tư trong nước: Quý I/2013, toàn tỉnh đã cấp GCNĐT mới cho 12 dự án đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh với tổng vốn đầu tư đăng ký 665 tỷ đồng. Luỹ kế đến nay, toàn tỉnh có 673 dự án đầu tư trong nước được cấp GCNĐT với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh là 75.079 tỷ đồng.
  • Đầu tư nước ngoài: Quý I/2013, toàn tỉnh đã cấp GCNĐT mới cho 25 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đầu tư 80,52 triệu USD; cấp GCNĐT điều chỉnh tăng vốn cho 08 dự án với mức vốn tăng thêm 27,72 triệu USD; tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh là 108,24 triệu USD; thu hồi 01 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 30 triệu USD. Luỹ kế đến nay, toàn tỉnh có 390 đơn vị FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh là 4,7 tỷ USD[32].

Thương mại - Dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Xuất khẩu giai đoạn 2001-2010 tăng trung bình là 47,91%/năm; giai đoạn 2005-2010 tăng 90,92%/năm. Năm 2011, giá trị xuất khẩu Bắc Ninh đạt 7,441 tỷ USD. Năm 2012, giá trị xuất khẩu của Bắc Ninh đạt 13,7 tỷ USD đã đưa Bắc Ninh trở thành địa phương xuất khẩu thứ 2 cả nước sau Thành phố Hồ Chí Minh, xuất khẩu Bắc Ninh chiếm tới 12% giá trị xuất khẩu của cả nước[33]. Quý 1/2013, xuất khẩu đạt 5.123 tỷ USD với tốc độ tăng tới 87,2% so với cùng kỳ năm trước và các thị trường xuất khẩu rộng lớn, trong năm 2013 có thể kỳ vọng đây sẽ là mặt hàng đầu tiên vượt qua mốc 20 tỷ USD, đóng góp quan trọng vào quy mô và tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bắc Ninh xuất siêu 180 triệu USD[34]. Tính đến hết tháng 6 năm 2013, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6 % so với cùng kỳ. Đây cũng là mức tăng cao hơn mức bình quân chung của 3 năm gần đây[35].

Sáu tháng đầu năm 2013, các chi nhánh ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn Bắc Ninh đã huy động được 29.783 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cuối năm 2012; dư nợ cho vay đạt 30.956 tỷ đồng, tăng 4,9% so với cuối năm 2012 trong đó tập trung cho vay các lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp - nông thôn, xây dựng nông thôn mới, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ[36].

Năm 2012, Điện lực Bắc Ninh đạt 2,207 tỷ kWh, tăng 18% so với năm 2011. Trong đó thành phần phụ tải thương nghiệp dịch vụ tăng 32,61%, công nghiệp xây dựng tăng 19,89%, quản lý tiêu dùng tăng 11,04%; tổn thất điện năng giảm 0,57% so với năm 2011[37].

Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh hiện có hàng trăm di tích lịch sử văn hóa với nhiều đình, chùa, lễ hội và những làn điệu dân ca Quan họ. Bề dày lịch sử, văn hóa đã tạo cho Bắc Ninh tiềm năng phát triển du lịch văn hóa.[38]. Bắc Ninh có 3 khu du lịch là: Khu du lịch văn hoá Quan họ Cổ Mễ (thành phố Bắc Ninh); khu du lịch văn hoá Đền Đầm (thị xã Từ Sơn); khu du lịch văn hoá Phật Tích (huyện Tiên Du). Bên cạnh đó, theo dự kiến sẽ có 3 khu du lịch khác là: Khu du lịch lâm viên Thiên Thai (huyện Gia Bình); khu du lịch văn hoá lịch sử Như Nguyệt (huyện Yên Phong); khu du lịch tâm linh Hàm Long - Núi Dạm (thành phố Bắc Ninh) và lựa chọn 22 điểm di tích quy hoạch phát triển thành điểm du lịch làm động lực cho các tuyến du lịch khép kín, liên hoàn và hấp dẫn trên địa bàn. Trong đó có một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu để hình thành các điểm, các tuyến du lịch hấp dẫn như Văn Miếu Bắc Ninh, chùa Phật Tích, lăng Kinh Dương Vương, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, đền Đô, đền thờ Lê Văn Thịnh. Ngoài ra, còn có du lịch cộng đồng tại làng gốm Phù Lãng (huyện Quế Võ), làng tương Đình Tổ, khu vực chùa Bút Tháp (huyện Thuận Thành), làng Quan họ Viêm Xá (Thành phố Bắc Ninh)[39].

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng, gồm cả đường bộ, đường sắt và đường sông. Trong đó, hệ thống đường bộ được đánh giá là tương đối đồng bộ so với các tỉnh khác trong cả nước.

Cao tốc Nội Bài - Bắc Ninh nằm trên đường quốc lộ 18

Về đường bộ, tỉnh có 5 quốc lộ chạy qua là tuyến Quốc lộ 1A chạy từ Hà Nội lên Lạng Sơn), tuyến Quốc lộ 18 (Nội Bài - Hạ Long - Cảng Cái Lân - Móng Cái), tuyến Quốc lộ 38 từ thành phố Bắc Ninh đi Hà Nam. Cao tốc quốc lộ 3 mới Hà Nội - Bắc Ninh - Thái Nguyên. Quốc lộ 18C được nâng cấp theo Quyết định số 2546/QĐ-BGTVT từ tỉnh lộ 282 đoạn (Quế Võ - Gia Bình - Thuận Thành thuộc tỉnh Bắc Ninh) nối Quốc lộ 18 (tại Quế Võ) với Quốc lộ 5 (Hà Nội - Hải Phòng) tại Thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội (cách cầu vượt Thanh Trì khoảng 2 km). Ngoài ra, Quốc lộ 5 nằm liền kề với Bắc Ninh. Cùng với quy hoạch vành đai 3, 4 của Hà Nội đều đi qua hầu hết các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh tạo ra một mạng lưới giao thông đồng bộ, liên hoàn giữa Hà Nội với Bắc Ninh, và giữa Bắc Ninh với các tỉnh lân cận. Trong tỉnh có các tỉnh lộ như 179,276, 280, 281, 283, 285, 287, 291, 295 kết nối các địa phương trong tỉnh với nhau.

Tỉnh Bắc Ninh hiện có nhiều tuyến xe buýt đi tới các tỉnh thành lân cận và tất cả các huyện trong tỉnh:[40]:

Quốc lộ 1A, đoạn qua Từ Sơn

Liên tỉnh

  • Paris m 10 jms.svg Long Biên - Từ Sơn[41]
  • Paris m 10 jms.svgB Long Biên - Trung Mầu [42](giáp ranh với các xã Tri Phương và Đại Đồng, Tiên Du)
  • 54 Long Biên - Bắc Ninh [43](khoảng 30 km nối Trung tâm Hà Nội với Trung tâm Bắc Ninh)
  • 52 Công viên Thống Nhất - Lệ Chi[43] (giáp ranh với huyện Thuận Thành)
  • 203 Hà Nội - Bắc Ninh - Bắc Giang[43]
  • 204 Hà Nội - Thị trấn Hồ (Huyện Thuận Thành)[43]
  • Hà Nội (Long Biên)- Gia bình - Lương Tài
  • Bắc Ninh - Quế Võ - TX. Chí Linh (Hải Dương)
  • 217 Bắc Ninh - Cầu Hồ - TP. Hải Dương[44]

Trong tỉnh

  • Paris m 1 jms.svg Bắc Ninh - Cầu Hồ - Lương Tài[45]
  • Paris m 2 jms.svg Bắc Ninh - Sao Đỏ (Hải Dương)[46]
  • Paris m 3 jms.svg Bắc Ninh - Yên Phong[47].
  • Paris m 8 jms.svg Bắc Ninh - Cầu Hồ - Kênh Vàng[48]
  • Bắc Ninh - Đông Xuyên (Yên Phong) - TX. Từ Sơn[49]
  • Đền Đô - Phật Tích - Thị trấn Lim[50]
  • Từ Sơn - Thị trấn Chờ - Bến đò Đông Xuyên[49]

Về đường sắt, Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng chạy qua và tuyến đường sắt Hà Nội - Bắc Ninh - Hạ Long (Quảng Ninh) đang được xây dựng.

Về đường thủy, Bắc Ninh có hệ thống sông Cầu, sông Thái Bìnhsông Đuống nối ra sông Hồng; các sông nhỏ như sông Ngũ Huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê (đang được nâng cấp để thoát nước cho thành phố), sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.

Cảng nội địa, Bắc Ninh có 5 cảng: Cảng Đáp Cầu,Cảng Á Lữ, Cảng Đức Long, Cảng Bến Hồ, Cảng Kênh Vàng.

Về đường hàng không, Bắc Ninh nằm liền kề với Sân bay Quốc tế Nội Bài. Từ trung tâm Tp.Bắc Ninh đến Sân bay Quốc tế Nội Bài khoảng 30 km được nối bằng QL 18[51].

Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

TheoTổng cục Thống kê Việt Nam thì năm 2010, Bắc Ninh có 217 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở Y tế, trong đó có 19 bệnh viện, 10 phòng khám khu vực và 186 trạm y tế.[52]. Cùng với hệ thống y tế của nhà nước, cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân đang dần phát triển. Bắc Ninh hiện có các bệnh viện sau(chưa kể các bệnh viện, trung tâm y tế tuyến huyện, phòng khám tư nhân):

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh là tỉnh có nhiều trạng nguyên nhất Việt Nam: 16 trong tổng số 55 người: Riêng thôn Tam Son 2 người

Trạng nguyên Lê Văn Thịnh
  1. Lê Văn Thịnh (1075 -Người đứng đầu khoa thi đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam[53]
  2. Nguyễn Quan Quang -Trạng nguyên đầu tiên (bắt đầu gọi là Trạng Nguyên)(1234)-Tam Son
  3. Lý Đạo Tái (1272) - Tổ thứ ba (Huyền Quang) của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
  4. Lưu Thúc Kiệm (1400)
  5. Nguyễn Nghiêu Tư (1448) - Trạng Lợn, Lưỡng quốc trạng nguyên.
  6. Vũ Kiệt (1472)
  7. Nguyễn Quang Bật (1484)
  8. Nghiêm Hoản (1496)
  9. Nguyễn Giản Thanh (1508) - Trạng Me
  10. Ngô Miễn Thiệu (1518)- Trạng Nguyên-Tam Son
  11. Hoàng Văn Tán (1523)
  12. Nguyễn Lượng Thái (1553)
  13. Phạm Quang Tiến (1565)
  14. Vũ Giới (1577)
  15. Nguyễn Xuân Chính (1637)
  16. Nguyễn Đăng Đạo (1683) - Trạng Bịu, Lưỡng quốc Trạng nguyên

Riêng Bảng nhãn, thám hoa, tiến sỹ có rất nhiều. Đặc biệt Làng Kim Đôi riêng họ Nguyễn đã có 18 vị (Theo Trạng nguyên, Bảng nhãn, thám hoa Việt Nam).

Đại học - Cao đẳng - THCN[sửa | sửa mã nguồn]

Tỉnh Bắc Ninh đã và đang quy hoạch 3 làng Đại học với Làng Đại học I có diện tích khoảng 200 ha tại Võ Cường (thành phố Bắc Ninh) và xã Liên Bão (Tiên Du), Làng Đại học II quy hoạch theo hướng "Công viên các trường Đại học" với diện tích tổng thể khoảng 1.300 ha tại các phường Hạp Lĩnh (TP. Bắc Ninh), xã Lạc Vệ, Việt Đoàn, Minh Đạo, Tân Chi (Tiên Du). Hiện tỉnh Bắc Ninh đang xúc tiến quy hoạch và lập dự án đầu tư khu Làng Đại học III quy mô 1000 ha[54].

Trung học phổ thông[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, toàn tỉnh có 18.293 học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông, thì có 19.380 lượt học sinh dự thi ĐH, với tổng điểm bình quân 3 môn thi ĐH là 12,85. Bắc Ninh xếp thứ 6 toàn quốc về tổng điểm bình quân 3 môn thi[55]

Văn hóa - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Liền chị quan họ - Hội Lim, Bắc Ninh

Bắc Ninh có một nền văn hoá nhân văn đặc sắc, một vùng quê văn hiến có nhiều di tích lịch sử văn hoá, lễ hội dân gian, làng nghề truyền thống. Những dấu ấn lịch sử sống động truyền thống văn hoá Việt Nam, đậm đà bản sắc Kinh Bắc, được kết tinh trong những di sản văn hoá, các lễ hội dân gian. Bắc Ninh là địa phương thứ 3 xây dựng văn miếu có tầm cỡ, qui mô, trang trọng. Văn miếu Bắc Ninh nổi tiếng với 677 vị đại khoa, chiếm 1/3 tổng số vị đại khoa của cả nước đã được vinh danh[56]. Văn miếu Bắc Ninh với những trang lịch sử văn hóa, giáo dục còn lưu giữ được cho đến ngày nay là những cứ liệu vô cùng giá trị của nền văn minh ở vùng Kinh Bắc, nơi có Luy Lâu cổ, nơi Sỹ Nhiếp lần đầu dạy người Việt học chữ. Chùa Dâu, Chùa Phật Tích là những nơi phát tích của Phật giáo Việt Nam, Chùa Dận. Bắc Ninh nổi tiếng với các làn điệu quan họ, các làng nghề như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, đúc đồng Đại Bái, dệt Hồi Quan. Các di tích lịch sử đáng kể có đền Đô - thờ tám vị vua triều Lý, đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng, đình Tam Tảo v.v. Bắc Ninh có nhiều đặc sản Bắc Ninh như bánh phu thê Đình Bảng, bánh tẻ làng Chờ, bánh khúc làng Diềm, bánh đúc Đình Tổ, nem Bùi (bùi xá), rượu nếp làng Cẩm,[57], cháo cá Bắc Ninh[58], tương Đình Tổ, bánh tro, bánh gai tươi, bánh gio Phủ Từ. Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian.

Lễ hội[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ hội làng Đồng Kỵ 2009

Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn ra hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau. Một số lễ hội tiêu biểu được liệt kê dưới đây (Theo âm lịch)

  • Lễ hội Làng Đại Lâm (xã Tam Đa, huyện Yên Phong) được tổ chức vào 24-25-26 thắng giêng, hội có môn bơi bơi chải kỉ niệm chiến thắng Sông Như Nguyệt -
  • Lễ hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du) được tổ chức vào 13 - 15 tháng giêng.
  • Lễ hội làng Tam Tảo, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du; được tổ chức vào mồng 10 tháng 02 hàng năm.
  • Lễ hội làng Kim Chân (làng Tiến sỹ). Được tổ chức vào ngày 26 đến 28 tháng 2.
  • Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng, thị xã Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ - 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010, và tưởng niệm các vị vua nhà Lý.
  • Lễ hội Phù Đổng (của bốn xã trong đó có xã Phù Đổng huyện Tiên Du) ngày 9- tháng 4 để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương.
  • Lễ hội Thập Đình (của mười làng thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình) để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao Doãn Công).
  • Lễ hội Cao Lỗ Vương ngày 10 - tháng 3 ở làng Tiểu Than(làng Dựng) xã Vạn Ninh và làng Đại Than (làng Lớ) ở xã Cao Đức, huyện Gia

Bình[59].

Có câu[60]:
Mùng bảy hội Khám, mùng tám hội Dâu
Mùng chín đâu đâu cũng về hội Gióng
  • Lễ hội làng Diềm - Từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 7 tháng 2 âm lich hằng năm - Tại làng Viêm Xá (còn gọi là làng Diềm), thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Di tích, di sản văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh có 1.259 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 495 di tích được nhà nước công nhận xếp hạng (trong đó có 194 di tích xếp hạng cấp Quốc gia, 301 di tích xếp hạng cấp tỉnh)[61].[62] Quan họ Bắc Ninh[63] đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc xếp vào Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại[64]

Đám cưới chuột - Tranh Đông Hồ

Làng nghề truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Bắc Ninh từ lâu đã nổi tiếng với nhiều làng nghề truyền thống có tuổi đời hàng trăm năm, làm ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, độc đáo[65]. Hiện nay, Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng. Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân trong tỉnh (trên 72.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thời vụ)[66].

Môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Ô nhiễm môi trường làng nghề ở Bắc Ninh đang ở mức độ nghiêm trọng đặc biệt ở 4 làng nghề trọng điểm là giấy Phong Khê, sắt thép Đa Hội, nhôm Văn Môn, đồng Đại Bái[67].Ngoài ra, một số công ty trong các khu công nghiệp cũng gây ô nhiễm như công ty Kingmo New Materials (Khu công nghiệp Tiên Sơn)[68]. Ô nhiễm đang ảnh hưởng lớn tới tới đời sống, sức khỏe của người dân và công nhân.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2012 phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập 29 tháng 11 năm 2013. 
  2. ^ Kiến trúc cổ vùng Kinh Bắc [video Kiến Việt net 16-06-2013, 01:55
  3. ^ Giới thiệu tiềm năng Du lịch tỉnh Bắc Ninh Trung Tâm Thông Tin Công nghiệp và Thương Mại - Bộ Công Thương (VITIC) Cập nhật: Thứ tư, 22-8-2012
  4. ^ Tiềm năng và định hướng phát triển tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2011-2016 Cổng Thông tin Điện tử tỉnh Bắc Ninh
  5. ^ Tổng quan Bắc Ninh Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh
  6. ^ a ă â b Về miền quan họ Thu Huệ, báo Thanh Hóa cập nhật 21/03/2013
  7. ^ Bắc Ninh: TP trực thuộc Trung ương vào năm 2020 Mai Hương, báo Xây Dựng, 22/03/2012 10:45
  8. ^ http://www.bacninh.gov.vn/Trang/gioithieutinh.aspx?gt=L%E1%BB%8Bch%20s%E1%BB%AD%20-%20V%C4%83n%20h%C3%B3a Lịch sử Bắc Ninh
  9. ^ Vài nét về lịch sử tỉnh Bắc Ninh, Cổng giao tiếp điện tử Bắc Ninh
  10. ^ Nghị quyết của Quốc hội khóa IX kì họp thứ 10
  11. ^ Nghị định 68/1999/NĐ-CP về việc chia huyện Tiên Sơn, Gia Lương để tái lập các huyện Tiên Du, Tiên Sơn, Gia Bình và Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
  12. ^ Nghị định 15/2006/NĐ-CP về việc thành lập thành phố Bắc Ninh thuộc tỉnh Bắc Ninh
  13. ^ Nghị định 01/NĐ-CP về việc thành lập thị xã Từ Sơn, thành lập các phường thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh
  14. ^ http://baobacninh.com.vn/?page=news_detail&category_id=12592&id=70128&portal=baobacninh Tóm tắt tiểu sử đồng chí Nguyễn-Sỹ, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh
  15. ^ http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/cactinhvathanhpho/tinhbacninh/thongtintinhthanh?view=organization&provinceId=1164 Tỉnh Bắc Ninh
  16. ^ http://bacninh.gov.vn/sobannganh/UBNDTinh/Trang/Gi%E1%BB%9Bi%20thi%E1%BB%87u%20chung.aspx?chm=Gi%E1%BB%9Bi%20thi%E1%BB%87u%20chung ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  17. ^ http://hanoimoi.com.vn/Tin-tuc/To_chuc-Can_bo/455454/ong-tran-van-tuy-giu-chuc-bi-thu-tinh-uy-bac-ninh Ông Trần Văn Túy giữ chức Bí thư Tỉnh ủy Bắc Ninh
  18. ^ “Kết quả toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009” (bằng Tiếng Việt). Tổng cục Thống kê. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2012. 
  19. ^ Địa lý tự nhiên - Tài nguyên và môi trường
  20. ^ “Bac ninh weather”. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2013.  }}
  21. ^ Dân số trung bình phân theo địa phương qua các năm, Theo Tổng cục thống kê Việt Nam, số liệu cập nhật 2011.
  22. ^ Giới thiệu Tỉnh - Viết về Bắc Ninh: Giới thiệu chung về Bắc Ninh
  23. ^ “Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Các kết quả chủ yếu”. Tổng Cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2012. 
  24. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên GS2011
  25. ^ a ă â Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội.
  26. ^ [1], Bắc Ninh: Tổng kết 8 năm thực hiện Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo
  27. ^ “Bắc Ninh thu hút đầu tư gắn với phát triển công nghiệp hỗ trợ”. nhandan.com.vn. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2013. 
  28. ^ Báo cáo của UBND tỉnh Bắc Ninh số 52/BC-UBND ngày 05/12/2012 báo cáo tình hình thực hiện nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2012 của Chính phủ
  29. ^ Tạo sự đồng thuận cao trong toàn Đảng bộ là tiền đề quan trọng đưa Bắc Ninh vào chu kỳ phát triển mới Trần Văn Túy, báo Bắc Ninh 06/02/2013 - 14:23
  30. ^ Bắc Ninh: Thành tựu kinh tế - xã hội năm 2012 tạo đà để phát triển nhanh và bền vững BNTV 13/02/2013 8:42:24 CH
  31. ^ Bắc Ninh chuyển mình phát triển bền vững - Tin doanh nghiệp - VnEconomy 09:51 (GMT+7) - Thứ Tư, 28/3/2012
  32. ^ Báo cáo Tình hình đăng ký đầu tư và đăng ký kinh doanh Quý I năm 2013 Sở Kế họch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh
  33. ^ Xuất khẩu khẳng định vị thế Thanh Ngân, 28/01/2013 - 14:59
  34. ^ VGP News | Xuất nhập khẩu: Góc nhìn từ địa phương Minh Ngọc, 7:00 PM, 21/04/2013
  35. ^ http://bacninhtv.vn/Tint%E1%BB%A9c/Kinht%E1%BA%BF/tabid/547/newsId/2348/ModuleId/2001/Default.aspx Tổng mức bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm đạt gần 15 nghìn tỷ đồng
  36. ^ http://baobacninh.com.vn/news_detail/79144/nganh-ngan-hang-tinh-trien-khai-nhiem-vu-6-thang-cuoi-nam.html Ngành Ngân hàng tỉnh: Triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm
  37. ^ http://baobacninh.com.vn/news_detail/78121/dai-hoi-cong-nhan-vien-chuc-cong-ty-dien-luc-bac-ninh-nam-2013.html Đại hội công nhân viên chức Công ty Điện lực Bắc Ninh năm 2013
  38. ^ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam
  39. ^ Bắc Ninh: Triển khai tour du lịch cộng đồng Làng gốm Phù Lãng (huyện Quế Võ) – Chùa Bút Tháp (huyện Thuận Thành) – Làng Quan họ cổ Viêm Xá (Thành phố Bắc Ninh)
  40. ^ http://www.bacninh.gov.vn/sobannganh/Sogtvt/Trang/Tin%20chi%20ti%E1%BA%BFt.aspx?newsid=259&cid=5&dt=2012-08-28
  41. ^ Xe buýt Hà Nội tuyến số 10: Long Biên – Từ Sơn » Các tuyến xe buýt tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế và các tỉnh thành trên toàn quốc
  42. ^ Xe buýt Hà Nội tuyến số 10: Long Biên – Trung Mầu » Các tuyến xe buýt tại Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Huế và các tỉnh thành trên toàn quốc
  43. ^ a ă â b http://www.hanoibus.com.vn/Default.aspx?pageid=253 Lộ trình các tuyến xe buýt
  44. ^ http://sogtvt.haiduong.gov.vn/TuyenXeBus/Pages/default.aspx Các tuyến xe Bus trên địa bàn tỉnh Hải Dương
  45. ^ http://lotrinh.vn/tourl/639_Lotrinh_xe_bus_bac_ninh,_tuyen_bac_ninh_luong_tai.aspx Thông tin lộ trình: "Bắc Ninh, Tuyến Bắc Ninh - Lương Tài"
  46. ^ http://lotrinh.vn/tourl/640_Lotrinh_xe_bus_bac_ninh,_tuyen_bac_ninh_sao_do.aspx Thông tin lộ trình: "Bắc Ninh, Tuyến Bắc Ninh - Sao Đỏ"
  47. ^ http://lotrinh.vn/tourl/641_Lotrinh_xe_bus_bac_ninh,_tuyen_bac_ninh_yen_phong.aspx Thông tin lộ trình: "Bắc Ninh, Tuyến Bắc Ninh - Yên Phong"
  48. ^ http://lotrinh.vn/tourl/643_Lotrinh_xe_bus_bac_ninh,_tuyen_bac_ninh_kenh_vang.aspx Thông tin lộ trình: "Bắc Ninh, Tuyến Bắc Ninh - Kênh Vàng"
  49. ^ a ă http://lotrinh.vn/tourl/642_Lotrinh_xe_bus_bac_ninh,_tuyen_tu_son_ben_do_dong_xuyen.aspx Thông tin lộ trình: "Bắc Ninh, Tuyến Từ Sơn - Bến đò Đông Xuyên"
  50. ^ http://lotrinh.vn/tourl/645_Lotrinh_xe_bus_bac_ninh,_tuyen_lim_den_do.aspx Thông tin lộ trình: "Bắc Ninh, Tuyến Lim - Đền Đô"
  51. ^ Thông xe đoạn đường Nội Bài - Bắc Ninh - Thong xe doan duong Noi Bai - Bac Ninh - DVO - Báo Đất Việt
  52. ^ “Số cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc sở Y tế phân theo địa phương”. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012. 
  53. ^ Tin Tức - 15 Trạng Nguyên Xứ Kinh Bắc
  54. ^ Quy hoạch - Báo kinh tế đô thị
  55. ^ Nhận diện giáo dục Bắc Ninh qua các kỳ thi Đại học
  56. ^ Văn Miếu Bắc Ninh - Biểu tượng đất học vùng Kinh Bắc
  57. ^ Chất lượng Việt Nam Online
  58. ^ Nhớ mãi hương vị cháo cá Bắc Ninh
  59. ^ http://btv.gov.vn/Tint%E1%BB%A9c/Ch%C3%ADnhtr%E1%BB%8Bx%C3%A3h%E1%BB%99i/tabid/546/newsId/1389/ModuleId/1999/Default.aspx
  60. ^ http://www.thanhgiong.org/vi/video.nl145.html
  61. ^ Tuyên truyền quảng bá về giá trị di sản văn hóa
  62. ^ Di tích, di sản văn hóa trang 2
  63. ^ Quan Họ Bắc Ninh folk songs 2009
  64. ^ Lists of intangible cultural heritage and Register of best safeguarding practices
  65. ^ Du lịch làng nghề- Tiềm năng cần đánh thức
  66. ^ Tạp chí Cộng Sản - Phát triển làng nghề ở Bắc Ninh theo hướng bền vững
  67. ^ http://thanhtravietnam.vn/vi-VN/News/thanhtravaxahoi/2013/06/30537.aspx Bắc Ninh: Ô nhiễm môi trường làng nghề sẽ xử lý được?
  68. ^ http://www.vietnamplus.vn/Home/Bac-Ninh-Nguoi-dan-song-mon-voi-khi-thai-KCN/201211/169992.vnplus Bắc Ninh: Người dân "sống mòn" với khí thải KCN

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]