Bắc Tề

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bắc Tề

550–577
Vị trí của Bắc Tề
  Trần
  Bắc Tề
  Bắc Chu.
  Tây Lương.
Thủ đô Nghiệp Thành
Chính thể Quân chủ chuyên chế
Hoàng đế
 - 550-559 Bắc Tề Văn Tuyên Đế
 - 560-561 Bắc Tề Hiếu Chiêu Đế
 - 561-565 Bắc Tề Vũ Thành Đế
 - 565-577 Bắc Tề Hậu Chủ
Thời đại lịch sử Nam Bắc triều
 - Thành lập 550
 - Cao Dương phế Hiếu Tĩnh Đế tự lập 550
 - Ngụy Thâu biên soạn Ngụy thư 554-559
 - Bắc Chu Vũ Đế diệt Bắc Tề. Triều đaị diệt vong 577
 - Triều đại diệt vong 577
Lịch sử Trung Quốc
Lịch sử Trung Quốc
CỔ ĐẠI
Tam Hoàng Ngũ Đế
Hạ ~tk 21– ~tk 16TCN
Thương ~tk 17– ~tk 11 TCN
Chu ~tk 11–256 TCN
 Tây Chu ~tk 11–771 TCN
 Đông Chu 770–256 TCN
   Xuân Thu 770–476 TCN
   Chiến Quốc 476–221 TCN
ĐẾ QUỐC
Tần 221 TCN–206 TCN
(Tây Sở 206 TCN–202 TCN)
Hán 202 TCN–220 CN
  Tây Hán 202 TCN–9 CN
  Tân 9–23
  (Huyền Hán 23–25)
  Đông Hán 25–220
Tam Quốc 220–280
  Tào Ngụy, Thục Hán , Đông Ngô
Tấn 266–420
  Tây Tấn 266–316
  Đông Tấn 317–420
Thập Lục Quốc
304–439
Nam-Bắc triều 420–589
  Lưu Tống, Nam Tề, Lương, Trần
  Bắc Ngụy, Đông Ngụy, Tây Ngụy, Bắc Tề, Bắc Chu
Tùy 581–619
Đường 618–907
 (Võ Chu 690–705)
Ngũ Đại Thập Quốc
907–979
Liêu 907–1125
(Tây Liêu 1124–1218)
Tống 960–1279
  Bắc Tống 960–1127
Tây Hạ
1038–1227
  Nam Tống 1127–1279
Kim
1115–1234
(Đại Mông Cổ Quốc 1206–1271)
Nguyên 1271–1368
(Bắc Nguyên 1368–1388)
Minh 1368–1644
(Nam Minh 1644–1662)
(Hậu Kim 1616–1636)
Thanh 1636–1912
HIỆN ĐẠI
Lịch sử Trung Hoa Dân Quốc1912–1949
Cộng hòa Nhân dân
Trung Hoa
1949–nay
Trung Hoa Dân Quốc
tại Đài Loan
1949–nay
Các triều đại Nam-Bắc triều
(420-589)
Nam triều: Bắc triều:

Lưu Tống
Nam Tề
Lương
Trần

Bắc Ngụy
Đông Ngụy
Tây Ngụy
Bắc Tề
Bắc Chu

Năm 560
  Trần
  Bắc Tề
  Bắc Chu.
  Tây Lương.

Bắc Tề (tiếng Trung: 北齊; Běiqí) là một trong năm triều đại thuộc Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Triều đại này cai quản khu vực miền bắc Trung Quốc từ năm 550 tới năm 577.

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Bắc Tề là sự kế tục nhà Đông Ngụy của người Tiên Ti. Trong chiến tranh giữa các chư hầu cuối thời Bắc Ngụy, tướng Cao Hoan (496-547) nổi lên làm chủ phía đông Trung Nguyên. Năm 534, khi Bắc Ngụy tan rã, Vua Bắc Ngụy Hiếu Vũ Đế chạy sang Quan Trung theo Vũ Văn Thái cát cứ tại đó, Cao Hoan đã lập hoàng thân Nguyên Thiện Kiến lên ngôi, tức là Hiếu Tĩnh Đế nhà Đông Ngụy. Bên kia Vũ Văn Thái sau khi giết Hiếu Vũ Đế cũng lập hoàng thân khác là Nguyên Bảo Cự lên ngôi, tức là Tây Ngụy Văn Đế.

Cao Hoan và Vũ Văn Thái nhân danh hai nhà Ngụy đánh nhau nhiều trận bất phân thắng bại. Năm 547, Cao Hoan mất, Cao Trừng (521-549) lên thay. Cao Trừng định cướp ngôi Đông Ngụy thì bị hành thích chết. Em Trừng là Cao Dương (529-559) lên thay. Năm sau, Cao Dương cướp ngôi Đông Ngụy, thành lập ra nhà Bắc Tề với niên hiệu Thiên Bảo.

Lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ của nhà Bắc Tề gồm 50 châu, 162 quận, 382 huyện. Dân số có 332,5 vạn hộ tương đương 20 triệu người (Bắc Chu có 211 châu, 508 quận, 1124 huyện; Nam Trần có 30 châu và 2 triệu dân). Lãnh thổ Bắc Tề là khu vực kinh tế phát triển nhất, dân số đông đúc nhất ở miền Bắc lúc bấy giờ.

Quân sự[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm đầu dưới sự cai trị của Văn Tuyên Đế, quân đội được xây dựng vững mạnh, chính sách thuế được điều chỉnh, tình trạng tham nhũng không xảy ra, Nhà nước trả lương hợp lý cho các quan chức, chính quyền được củng cố. Văn Tuyên Đế sửa lại luật của Đông Ngụy, chọn lựa những người khỏe mạnh từ người Tiên Ty và Hán xung vào quân đội, trấn giữ các trọng trấn.

Luật thuế được điều chỉnh, dân chúng được chia thành chín hạng tùy thuộc vào tài sản, người giàu phải nộp nhiều thuế hơn, người nghèo phải góp công sức nhiều hơn. Để chống xâm lăng của hai dân thiểu số Đột Quyết (Tu Jue) và Khiết Đan từ phương Bắc, Bắc Tề cho xây cất, năm 556, một thành lũy dài 700 cây số đi từ Đại Đồng (Sơn Tây) đến Sơn Hải quan bên cạnh bờ biển Bột Hải. Gần 2 triệu nhân công được huy động để xây dựng kéo dài thêm Vạn Lý Trường Thành. Quân đội Bắc Tề được xây dựng tinh nhuệ đã đẩy lùi những cuộc tấn công của Tây Ngụy.

Năm 561, Văn Tuyên Đế chết, con lớn Cao Ân (545-561) lên kế vị vẫn còn nhỏ tuổi. Em Văn Tuyên Đế là Trường Sơn Vương Cao Diễn giết Tể tướng Dương Ân và giành quyền lực, phế bỏ Cao Ân làm Tế Nam Vương và sau đó giết chết vào năm 561. Cao Diễn lên ngôi, tức Hiếu Chiêu Đế, cai trị một thời gian ngắn và chết trong một lần đi săn. Năm 561, Cao Trạm lên ngôi kế vị anh trai của mình, tức là Vũ Thành Đế.

Chính sách ruộng đất[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Bồ Tát thời Bắc Tề

Luật thuế cũng được cải cách, cho phép người dân không có đất canh tác được quyền sử dụng đất để tăng thêm sản lượng nông nghiệp. Năm 564, nhà Bắc Tề từng ban bố một lệnh chia đều ruộng đất với ý muốn điều chỉnh chế độ quân điền, thay đổi độ tuổi nhận ruộng từ 15 lên 18 tuổi, tuổi trả ruộng hạ xuống 65, Triều đình không quan tâm đến vấn đề ruộng đất hưu canh, mỗi tráng đinh được cấp lộ điền là 80 mẫu, phụ nữ được cấp lộ điền 40 mẫu, tang điền không đổi là 20 mẫu nhưng tuyên bố vĩnh viễn thuộc về nông dân.

Ở những nơi ruộng đất không thích hợp cho việc trồng dâu thì lại cấp cho nông dân một số lượng ruộng đất thích hợp để trồng cây gai gọi là ma điền, cũng giống như tang điền; nô tỳ cũng được cấp ruộng đất giống như người bình dân. Cây gai (ninh ma) là loại cây sống lâu năm. Sợi gai nhẹ, trắng, sáng bóng, bền chắc gấp mười lần sợi bông. Cây chắc khoẻ và thường cho sợi mới suốt mấy chục năm thậm chí cả trăm năm.

Tuy nhiên đối với số lượng nô tỳ được hưởng quyền cấp ruộng đất, Triều đình có sự hạn chế, quy định thân vương là 300 người, tự vương là 200 người, thân chính vương là 150 người, quan viên từ chính tam phẩm trở lên 100 người, quan viên từ chính thất phẩm trở xuống là 80 người, từ bát phẩm trở xuống và thứ dân là 60 người. Nếu nô tỳ vượt quá số quy định đó thì không cấp cho ruộng đất, mỗi con bò cày ruộng được cấp 60 mẫu nhưng hạn chế tối đa chỉ cấp cho 4 con bò, thời gian trả ruộng và cấp phát ruộng đất đổi từ tháng giêng sang tháng 10 hàng năm. Kết quả hiệu quả thu được rất nhỏ. Địa chủ sĩ tộc xưa nay vốn chiếm hữu phần lớn ruộng đất, họ lại hay thừa cơ chiếm đất tốt. Kết quả người giàu có nhiều ruộng đất, còn người nghèo thì không có.

Luật pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa xuân năm 564, nhà Bắc Tề cải cách lại hình luật có từ thời Bắc Ngụy theo hướng khoan dung hơn. Việc soạn thảo pháp luật do Phong Truật chủ trì.

Phong Truật xuất thân trong đại tộc ở Hà Bắc, từng làm quan suốt từ triều Tây Tấn, Tiền Yên, Hậu Yên, Bắc Ngụy, lại làm Đại Lý Tự khanh, tinh thông chế độ luật lệnh. Luật của Bắc Tề có kết cấu chặt chẽ, văn chương tinh giản được xem là bộ luật ưu tú nhất trong thời kỳ Nam Bắc triều, gồm 12 chương, 949 điều. Về sau các triều đại nhà Tùynhà Đường đều lấy Luật Bắc Tề làm bản tham khảo.

Về mặt nội dung Bắc Tề luật đều kế thừa thành quả cải cách pháp luật từ thời Ngụy Tấn trở về sau, nét đặc sắc nhất là sáng lập ra chế độ mười điều trọng tội, tập trung các tội danh có hại nhất tới trật tự thống trị là phản nghịch, đại nghịch, phản loạn, hàng, ác nghịch, bất đạo, bất tín, bất hiếu, bất nghĩa, nội loạn. Về sau mười điều trọng tội được nhà Tùy chỉnh lý và gọi là Thập ác.

Chính sách dân tộc[sửa | sửa mã nguồn]

Tập đoàn thống trị Đông Ngụy Bắc Tề chủ yếu do tộc Tiên Ti lục trấn và địa chủ Hán tộc Hà Bắc kết hợp nắm giữ. Vì người Tiên Ti kỳ thị người Hán nên mâu thuẫn dân tộc rất gay gắt. Cao Hoan muốn điều hòa mâu thuẫn giữa hai tộc Hồ và Hán nhưng không đủ sức. Cao Hoan cho rằng người Tiên Ty và Hán cần phải hợp tác với nhau, người Hán canh tác nông nghiệp để cung ứng lương thực, còn người Tiên Ty tham gia quân đội để bảo vệ đất nước. Chính sách của Đông Ngụy cho phép người Tiên Ty có quyền áp bức người Hán trong trật tự và người Hán phải cam chịu. Cao Hoan tiếp tục nhận được sự ủng hộ của tầng lớp quý tộc Thác Bạt cũ, cho phép quý tộc Thác Bạt quay trở lại phong tục cũ, sử dụng ngôn ngữ Tiên Ty, đi ngược lại chính sách của Hiếu Văn Đế, trong khi đó địa chủ người Hán cũng nhận được các đặc quyền kinh tế. Họ tên của người Tiên Ty cũng được đổi lại. Khi vua mới lên ngôi cũng theo lễ nghi cũ của người Tiên Ty: đầu trùm khăn len màu đen, quay về hướng tây để lạy trời, sau đó mới đi vào điện Thái Cực. Các trường Nho giáo đều đóng cửa. Người Tiên Ty có tiếng nói mà không có chữ viết nên mọi văn thư trong triều đình vẫn dùng chữ Hán. Chính quyền Đông Ngụy – Bắc Tề luôn xảy ra xung đột quyết liệt giữa người Tiên Ty và người Hán. Cuộc tranh chấp chính trị giữa người Tiên Ty và người Hán được kết thúc bằng sự thất bại của các sĩ tộc người Hán.

Diệt vong[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Bắc Tề được cai trị bởi những vị hoàng đế hung bạo và thiếu năng lực như Văn Tuyên Đế Cao Dương, Vũ Thành Đế Cao Đam (hay Trạm) và Hậu Chủ Cao Vĩ cùng các quan lại tham nhũng biến chất cũng như quân đội ngày càng yếu kém hơn.

Mặc dù ban đầu khi mới thành lập, Bắc Tề là nước mạnh nhất trong số ba nước chính tại Trung Quốc cùng Bắc ChuTrần, nhưng dần dần bị sa sút trong cuộc chiến với hai quốc gia kia.

Vũ Thành Đế đã nghe theo lời khuyên của Hoài Dương Vương Hoà Sĩ Khai, truyền ngôi cho Thái tử Cao Vĩ vào năm 564 rồi lui về sau để mặc sức hưởng lạc. 3 năm sau thì Vũ Thành Đế chết do tửu sắc quá độ. Trong thời gian Cao Vĩ cai trị, nạn tham nhũng và lãng phí càng phát triển. Đến hậu kỳ Bắc Tề, nông dân mất hết đất đai, bỏ nhà lưu vong khiến thu nhập tài chính của Bắc Tề hết sức nguy ngập. Chính trị Bắc Tề đen tối, tham quan ô lại dẫy đầy mọi nơi. Tề Hậu Chủ Cao Vĩ là một hôn quân hoang đường, dâm dục tàn bạo, xây dựng cung điện chùa chiền liên miên, hoang phí vô độ. Vì vậy, bóc lột càng nặng, dân không đất sống, lửa khởi nghĩa bùng bùng phát sinh.

Năm 577, Bắc Chu Vũ Đế (Vũ Văn Ung) mang quân đánh Bắc Tề. Hậu Chủ Cao Vĩ vẫn mải cùng mỹ nhân Phùng Tiểu Liên vui chơi đàn hát, không quan tâm tới mặt trận. Mãi tới khi quân Bắc Chu kéo tới gần, Cao Vĩ vội bỏ chạy, không dám chống cự.

Anh họ Cao Vĩ là An Đức Vương Cao Diên Tông (con trai Cao Trừng) xưng đế trong một thời gian ngắn trong năm 577 sau khi binh lính bảo vệ thành Tấn Dương (晉陽, nay thuộc Thái Nguyên, Sơn Tây) tôn ông lên ngôi khi Cao Vĩ bỏ chạy khỏi Tấn Dương. Tuy nhiên, Cao Diên Tông gần như bị quân Bắc Chu đánh bại ngay lập tức và bị bắt, vì thế nói chung không được coi là Hoàng đế Bắc Tề thật sự.

Thái thượng hoàng Cao Vĩ sau khi bỏ chạy đã cố gắng ban bố một chỉ dụ thay mặt cho con trai mình là Ấu Chủ còn quá nhỏ để nhường ngôi cho chú họ mình (con trai Cao Hoan) là Nhậm Thành Vương Cao Giai (高湝), nhưng các viên quan mà ông giao nhiệm vụ truyền chỉ dụ cho Cao Giai đã đầu hàng Bắc Chu chứ không tới truyền chỉ dụ cho Cao Giai. Sau đó Cao Giai cũng bị quân Bắc Chu bắt giữ.

Cha con Cao Vĩ cuối cùng bị quân Bắc Chu bắt. Chu Vũ Đế sai hai cha con múa hát làm trò trong quân rồi mang chém cả hai.

Sau đó con trai Văn Tuyên Đế là Phạm Dương Vương Cao Thiệu Nghĩa, dưới sự bảo hộ của người Đột Quyết đã xưng làm Vua Bắc Tề trên lãnh thổ Đột Quyết, nhưng đã không thành công trong việc tái chiếm lãnh thổ cũ của Bắc Tề. Nhưng đến năm 580, Thiệu Nghĩa bị người Đột Quyết bắt nộp cho Bắc Chu và bị giam giữ tại khu vực Tứ Xuyên ngày nay. Đây cũng là vấn đề gây tranh luận xem Cao Thiệu Nghĩa có nên được công nhận là Hoàng đế Bắc Tề hay không, nhưng trong bất kỳ trường hợp nào thì năm 577 nói chung được các sử gia coi là thời điểm kết thúc nhà Bắc Tề.

Các hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Thụy hiệu (諡號) Họ, tên Trị vì Niên hiệu (年號), thời gian sử dụng
Nhà Bắc Tề 550-577
Hiến Tổ Văn Tuyên Đế (文宣帝) Cao Dương (高洋) 550-559 Thiên Bảo (天保) 550-559
Phế Đế (廢帝) Cao Ân (高殷) 559-560 Càn Minh (乾明) 560
Túc Tông Hiếu Chiêu Đế (孝昭帝) Cao Diễn (高演) 560-561 Hoàng Kiến (皇建) 560-561
Thế Tổ Vũ Thành Đế (武成帝) Cao Đam (高湛) 561-565 Thái Ninh (太寧) 561-562
Hà Thanh (河清) 562-565
Hậu Chủ (後主) Cao Vĩ (高緯) 565-577 Thiên Thống (天統) 565-569
Vũ Bình (武平) 570-576
Long Hóa (隆化) 576
Ấu Chủ (幼主) Cao Hằng (高恆) 577 Thừa Quang (承光) 577
Tề Thần Vũ Đế
Cao Hoan
496-547
Tề Văn Tương Đế
Cao Trừng
521-549
Tề Văn Tuyên Đế
Cao Dương
529-550-559
Tề Hiếu Chiêu Đế
Cao Diễn
535-560-561
Tề Vũ Thành Đế
Cao Trạm
537-561-565-568
Nhâm Thành Vương
Cao Giai
?-577
An Đức Vương
Cao Diên Tông
?-576-578
Tề Phế Đế
Cao Ân
545-559-560-561
Phạm Dương Vương
Cao Thiệu Nghĩa
?-578-580-?
Tề Hậu Chủ
Cao Vĩ
556-565-577
Sở Cung Ai Đế
Cao Nghiễm
557-571
Tề Ấu Chủ
Cao Hằng
570-577-578

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]