Bến Cát (huyện cũ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bến Cát
Huyện
KDT My Phuoc 3.jpg
Khu Đô thị và Công Nghiệp Mỹ Phước III
Địa lý
Tọa độ: 10°12′42″B 106°36′28″Đ / 10,21167°B 106,60778°Đ / 10.21167; 106.60778Tọa độ: 10°12′42″B 106°36′28″Đ / 10,21167°B 106,60778°Đ / 10.21167; 106.60778
Diện tích 577,57 km2[1]
Dân số (2009)  
 Tổng cộng 153.451 người[1]
 Mật độ 266 người/km2
Hành chính
Quốc gia  Việt Nam
Vùng Đông Nam Bộ
Tỉnh Bình Dương
Thành lập 1977
Phân chia hành chính 1 thị trấn, 14 xã
Mã hành chính 721[1]
Website Huyện Bến Cát

Bến Cát là một huyện thuộc tỉnh Bình Dương, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, trung tâm huyện cách Thành phố Thủ Dầu Một 20 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km[2].

Thị trấn Mỹ Phước nằm trên đường Quốc lộ 13 cách Thành phố Thủ Dầu Một khoảng 20 km về hướng bắc, tỉnh lộ 744 theo hướng Tây Bắc đi huyện Dầu Tiếng và tỉnh Tây Ninh.

Vị trí địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm ở trung tâm tỉnh Bình Dương, phía bắc giáp với tỉnh huyện Chơn Thành (Bình Phước), phía đông là huyện Dầu Tiếng, phía tây là huyện Phú Giáo và huyện Tân Uyên, phía nam là thành phố Thủ Dầu Một và huyện Củ Chi (TP. Hồ Chí Minh)

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bến Cát xưa là quận của Chính Quyền Việt Nam Cộng Hoà thuộc tỉnh Bình Dương.

Ngày 11 tháng 3 năm 1977, chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 55-CP hợp nhất với huyện Dầu Tiếng thành huyện Bến Cát thuộc tỉnh Sông Bé[3].

Khi hợp nhất, huyện Bến Cát có 13 xã: Chánh Phú Hòa, Định An, Định Hiệp, Định Thành, Hòa Định, Hòa Lợi, Kiến An, Lai Hưng, Lai Uyên, Long Nguyên, Tây Nam, Thanh An, Thanh Huyền.

Ngày 25 tháng 4 năm 1979, chia xã Tây Nam thành ba xã lấy tên là xã An Điền, xã Phú An và xã An Tây; chia xã Hòa Định thành hai xã lấy tên là xã Thới Hòa và xã Tân Định; thành lập ở các vùng kinh tế mới một số xã lấy tên là xã Tân Hưng, xã Bến Tượng, xã Tân Long, xã Bàu Bàng, xã Cây Trường II, xã Long Hòa, xã Hưng Hòa, xã Long Tân, xã Long Chiểu, xã Long Bình.

Ngày 9 tháng 4 năm 1986, sáp nhập xã Lai Uyên và xã Bầu Bàng thành một xã lấy tên là xã Lai Uyên; sáp nhập xã Lai Hưng và xã Bến Tượng thành một xã lấy tên là xã Lai Hưng.

Ngày 17 tháng 7 năm 1986, đổi tên xã Kiến An thành xã An Lập.

Ngày 29 tháng 8 năm 1994, hợp nhất 2 xã Long Bình và Long Chiểu thành thị trấn Mỹ Phước; chuyển xã Định Thành thành thị trấn Dầu Tiếng; giải thể xã Tân Long.

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tỉnh Sông Bé tách thành 2 tỉnh Bình DươngBình Phước, huyện Bến Cát trực thuộc tỉnh Bình Dương và tiếp nhận thêm 4 xã: Minh Hòa, Minh Tân, Minh Thạnh, Trừ Văn Thố thuộc huyện Bình Long của tỉnh Bình Phước.

Ngày 23 tháng 7 năm 1999, tách thị trấn Dầu Tiếng và 10 xã: Định An, Định Hiệp, Minh Hòa, Minh Tân, Minh Thạnh, Long Tân, An Lập, Thanh An, Thanh Huyền, Long Hòa để tái lập huyện Dầu Tiếng.

Ngày 11 tháng 8 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 36/NQ-CP, điều chỉnh địa giới hành chính huyện Bến Cát và huyện Tân Uyên để mở rộng địa giới hành chính thị xã Thủ Dầu Một. Theo đó, điều chỉnh 1.079,15 ha diện tích tự nhiên và 1.487 nhân khẩu của xã Hòa Lợi để thành lập phường Hòa Phú thuộc thị xã Dầu Một[4].

Từ đó, huyện Bến Cát có 1 thị trấn Mỹ Phước và 14 xã: An Điền, An Tây, Chánh Phú Hòa, Cây Trường II, Hòa Lợi, Hưng Hòa, Lai Hưng, Lai Uyên, Long Nguyên, Phú An, Tân Định, Tân Hưng, Thới Hòa, Trừ Văn Thố.

Ngày 29 tháng 12 năm 2013, huyện Bến Cát được tách thành thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện có trữ lượng lớn khoáng sản phi kim loại như cao lanh, đất sét, đất làm gạch ngói, sỏi đỏ. Nguồn nước mặt và nước ngầm phong phú với 2 con sông Sài Gònsông Thị Tính chảy qua địa bàn huyện. Hệ thống giao thông đường thuỷ, đường bộ phát triển nối liền các tỉnh trong vùng và thành phố Hồ Chí Minh. Bến Cát còn có tiềm năng lớn về đất đai để phát triển trồng trọt các loại cây công nghiệp, cây ăn trái và quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, là tiền đề thuận lợi để phát triển sản xuất công nghiệp.

Tình hình kinh tế chung trong năm qua gặp nhiều khó khăn, tác động lớn đến chỉ số tiêu dùng, kim ngạch xuất khẩu, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của các thành phần kinh tế tuy vậy năm 2012 huyện vẫn tăng trưởng kinh tế ở mức cao, thu hút đầu tư nước ngoài tăng gấp 3 lần so với năm 2011[5].

Tổng giá trị sản xuất năm qua đạt gần 50.000 tỷ đồng, tăng 17,5% so với năm 2011. Nhờ chuẩn bị tốt cơ sở hạ tầng nên hiện 8 KCN trên địa bàn huyện với tổng diện tích 4.086 ha đang từng bước được lấp đầy. Năm qua, toàn huyện thu hút 6 dự án FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 71 triệu USD, nâng tổng số dự án FDI trên địa bàn huyện lên 425 dự án với tổng vốn đăng ký 4,6 tỷ USD[5].

Trong lĩnh vực thương mại dịch vụ trong năm qua cũng đạt trên 4.000 tỷ đồng. Trong năm, huyện cấp thêm 1.480 giấy chứng nhận hộ kinh doanh cá thể với vốn đăng ký là 372 tỷ đồng, nâng tổng số hộ kinh doanh cá thể lên gần 17.000 hộ với vốn đăng ký trên 2.000 tỷ đồng.

Để thực hiện hoàn thành các mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện, năm 2013 Bến Cát tiếp tục hướng đến các mục tiêu quan trọng như giá trị sản xuất công nghiệp tăng 14 - 15%, thương mại - dịch vụ tăng 50 - 60%[5]...

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â “Diện tích và dân số”. theo website huyện Cần Giuộc. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2012. 
  2. ^ Giới thiệu về Huyện Bến Cát, Theo Website Bình Dương.
  3. ^ Quyết định 55-CP năm 1977, Chính phủ Việt Nam.
  4. ^ Nghị quyết số 36/NQ-CP của Chính phủ, Chính phủ Việt Nam.
  5. ^ a ă â Bến Cát: Vượt qua khó khăn, hoàn thành nhiều mục tiêu quan trọng, Theo Báo Bình Dương.