Bến Nghé (sông)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một đoạn sông Sài Gòn (hay Bến Nghé) chảy qua thành phố

Sông Bến Nghé là một đoạn sông Sài Gòn chảy qua Thành phố Hồ Chí Minh trước khi hiệp với sông Đồng NaiNhà Bè, rồi đổ ra biển Đông thuộc Việt Nam.

Con sông này chảy dọc địa phận thành phố với chiều dài khoảng 80 km, có lưu lượng nước trung bình vào khoảng 54 m³/s, có bề rộng tại thành phố khoảng 225-370 m, có độ sâu có chỗ tới 20 m.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Trước đây, sông Bến Nghé còn có tên là Ngưu Chử, Ngưu Tân hay Tân Bình giang (do chảy qua phủ Tân Bình xưa), theo nghĩa: Ngưu là trâu; tân hay chữ là bến; giang là sông.

Để giải thích cái tên Bến Nghé, hiện có hai thuyết:

  • Theo học giả Trương Vĩnh Ký: Bến Nghé có nguồn gốc từ tiếng Khmer: Kompong: bến, Kon Krabei: con trâu. (Le Cisbassac, tr. 192). Nhà địa danh học Lê Trung Hoa cũng đồng ý rằng: Bến Nghé là cái bến mà "người ta thường cho trâu, bò ra tắm" vì có nhiều địa danh cấu tạo bằng "bến + tên thú" như: rạch Bến Nghé (Nhà Bè), rạch Bến Tượng (Sông Bé)...Cho nên Bến Nghé có lúc còn được gọi là Bến Trâu như trong bài "Gia Định thất thủ vịnh": Tàu khói chạy mây tuôn sông mấy khúc, lờ lạt Bến Trâu" [1].

Tên Bến Nghé, ban đầu là tên của một bến nước, sau chỉ một con sông, cuối cùng dùng chỉ một địa phương (vùng trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay). Và có một thời, mỗi khi người ta nói Đồng Nai-Bến Nghé tức là nói đến cả vùng đất Nam Bộ[2].

Rạch Bến Nghé, đoạn chảy qua cầu Khánh Hội.

Tuy nhiên, hiện nay trên bản đồ vẫn ghi khúc sông này là sông Sài Gòn. Còn cái tên Bến Nghé hiện chỉ còn dùng để chỉ một con rạch: rạch Bến nghé chảy từ sông Sài Gòn (cầu Khánh Hội) đến cầu Chữ Y. Con rạch này nhận nước của sông Sài Gòn và là ranh giới tự nhiên giữa quận 1quận 4 (ảnh bên).

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức chép:

Ở phủ Tân Bình, trước thành Gia Định, tục gọi là sông Bến Nghé, rộng 142 tầm[3], sâu 10 tầm, khi nước lên sâu 13 thước ta[4], sông này vừa rộng lớn vừa trong sâu, những tàu buôn và ghe thuyền sông biển trong và ngoài nước ra vào không ngớt, trông thấy đầu tàu nối liền, đuôi cột buồm chi chít, đủ biết đó là nơi đô hội. Từ bến đò trước thành, uốn quanh lên phía tây đến sông Bình Đồng (tục gọi là sông Đồng Cháy) qua sông Băng Bột (Thủy Vọt), ngược lên thủ sở Tầm Phong Tích rồi đến thác lớn Bưng Đàm (Nhồm) là chỗ cuối nguồn, tất cả là 462 dặm[5]. Từ bến đò trước thành quanh ra phía bắc uốn qua đông xuống cửa Tam Giang Nhà Bè, hợp làm sông Phước Bình đổ ra cửa lớn Cần Giờ là 142 dặm rưỡi. Hai bên sông có nhiều sông nhánh, phía tây nam sông thuộc địa giới trấn Phiên An, phía đông bắc thuộc địa giới trấn Biên Hòa[6].

Vai trò[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Bến Nghé trên bản đồ của Trần Văn Học

Sông Bến Nghé có vai trò quan trọng trong việc phát triển vùng đất Gia Định xưa. Trích bài viết của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng:

Sau khi chiến tranh tàn phá Cù lao Phố và tiếp đó, thành Gia Định (thành Bát Quái, thành Qui) được thành lập theo ý đồ chính trị của chúa Nguyễn Ánh, Bến Nghé trở thành xứ thành thị...Chợ phố Sài Gòn, nằm trên bờ sông Sài Gòn, đã dần dần giành mất vai trò của Cù lao Phố; xã Thanh Hà ở Biên Hòa cũng bị làng Minh Hương thay thế. Cuối thế kỷ 18, Bến Nghé – Sài Gòn là một thành thị đô hội...Từ năm 1788, vùng đất này đã bước vào công cuộc xây dựng hòa bình. Thành Gia Định được xây theo kiểu thành Vauban và là cơ quan của Gia Định kinh với dinh thự, kho lẫm, cuộc chế tạo, xưởng đóng ghe thuyền, tàu chiến. Hệ thống đường sá, phố chợ được chỉnh đốn một bước qui mô. Thương cảng Bến Nghé thu hút tàu bè của thương nhân ngoại quốc đến buôn bán đông đảo. Chợ phố, bến cảng đã làm cho Bến Nghé–Sài Gòn (hiểu là Chợ Lớn) trở thành trung tâm chính trị, kinh tế cho toàn vùng. Cho đến khi: "Bến Nghé của tiền tan bọt nước/ Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây"[7]...Khu vực trung tâm Bến Nghé, kinh rạch được san lấp, dinh thự, công sở (Bưu điện, Pháp đình, dinh Thống đốc, tòa thị chính), nhà thờ Thiên Chúa giáo, đường sá, phố sá...lại được dựng lên...đã làm thay đổi về chất bộ mặt của xứ đô hội Gia Định [8].

Ngoài vai trò là thủy lộ quan trọng, sông bến Nghé còn là nơi xảy ra nhiều trận đánh ác liệt dưới thời phong kiến trong lịch sử Việt Nam. Khi thực dân Pháp cai trị Nam Kỳ, để hướng dẫn tàu bè ra vào sông Sài Gòn được an toàn, nhà cầm quyền Pháp đã cho xây một cột cờ cao 30 mét cách vàm Bến Nghé vài trăm mét, gọi là cột cờ Thủ Ngữ. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, khu vực cột cờ Thủ Ngữ đã chứng kiến nhiều cuộc đấu tranh của quân và dân Việt[2].

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lê Trung Hoa, Địa danh Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1991, trang 62.
  2. ^ a ă Theo Website Sở Xây Dựng Thành phố Hồ Chí Minh [1].
  3. ^ Một tầm = 3,2 m (chú thích số 17 của bản dịch sách Gia Định thành thông chí [2]). Có sách nói hơi khác.
  4. ^ Theo chú thích số 38 của bản dịch sách Gia Định thành thông chí thì một thước ta = 0,4m (qui định chính thức năm 1900, còn thời Trịnh Hoài Đức là 0,324m) [3]. Có sách nói hơi khác.
  5. ^ Dặm: dài bằng 444,44 mét.
  6. ^ Gia Định thành thông chí (bản điện tử) [4].
  7. ^ Chạy giặc, thơ Nguyễn Đình Chiểu.
  8. ^ Lược theo bài viết của Huỳnh Ngọc Trảng. Xem toàn văn tại đây: [5].

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Dược-Trung Hải, Sổ tay địa danh Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo Dục, 2008.
  • Bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Hồng Đức, tháng 7 năm 2007.
  • Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng nói Miền Nam. Nhà xuất bản Trẻ, 1999.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]