Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Phân loại và tư liệu bên ngoài

Gross pathology of a lung showing centrilobular-type emphysema characteristic of smoking. This close-up of the fixed, cut lung surface shows multiple cavities lined by heavy black carbon deposits.
ICD-10 J40.J44., J47.
ICD-9 490492, 494496
OMIM 606963
DiseasesDB 2672
MedlinePlus 000091
eMedicine med/373 emerg/99
MeSH C08.381.495.389

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) (tiếng Anh: Chronic obstructive pulmonary disease hay COPD) là tên gọi chung một nhóm bệnhphổi do tắc nghẽn thông khí. Theo định nghĩa của GOLD 2003 BPTNMT là một bệnh biểu hiện bởi sự giới hạn lưu lượng không khí trong các đường hô hấp, sự giới hạn này không hồi phục hoàn toàn. Phần lớn các bệnh này là do hút thuốc lá, nhưng một số nhỏ do nguyên nhân khác như hít phải độc tố hay bụi hóa học, ô nhiễm. Một số trường hợp nhiễm bệnh không rõ nguyên nhân - có thể do bẩm sinh.

Theo kết quả nghiên cứu được thực hiện trên gần 2.600 người ở Hà Nội năm 2005, 6,8% số người trên 40 tuổi bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Tại Khoa Hô Hấp Bệnh viện Bạch Mai, số bệnh nhân nội trú điều trị căn bệnh này chiếm 26%. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính gây tử vong rất cao, chỉ đứng sau bệnh mạch vành, ung thưtai biến mạch máu não.[1].

Những bệnh điển hình của dạng bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính:

Các yếu tố nguy cơ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ gây BPTNMT hàng đầu. Người hút thuốc dễ bị BPTNMT gấp 10 lần hơn người không hút thuốc. 80-90% bệnh nhân BPTNMT có hút thuốc. Gần 50% những người hút thuốc lâu dài sẽ bị BPTNMT (hút >20gói năm thì nguy cơ bọ COPD là rất cao). Hút thuốc lá thụ động cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh.
Chú ý nhất là phụ nữ hút thuốc lá trong khi có thai nó ảnh hưởng không những phổi và sức khoẻ của người mẹ mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sự trưởng thành của phổi con.
  • Ô nhiễm môi trường: Ô nhiễm môi trường trong nhà với khói lò sưởi, khói bếp rơm, rạ, củi, than... gây nên khoảng 20% các trường hợp BPTNMT trên thế giới. Ô nhiễm không khí với khói của các nhà máy, khói của các động cơ giao thông, khói, bụi nghề nghiệp cũng là các yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Cơ chế sinh bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bệnh PTNMT có liên quan đến phản ứng viêm và các yêu tố nguy cơ:khói thuốc lá,khí độc khi vào đường dẫn khí thì chính các khí này kích thích đại thực bào và các tế bào thượng bì tiết ra các TNF alpha và các chất trung gian gây viêm như IL8...Cho nên phản ứng viêm trong bệnh này chính là đáp ứng bảo vệ của đường hô hấp trước những tác động của khói thuốc và các chất độc khác.
  • Thiếu alpha1 antiytripsin: đây là một chất ức chế một số protein như là neutrophile elastase làm gia tăng nguy cơ gây khí phế thủng; elastin là một thành phần chính của thành phế bào bị huỷ bởi neutrophile elastase. Sự mất quân bình giữa proteinase và antiproteinase nội sinh có thể gây nên sự phá huỷ phổi và có thể xảy ra do sự suy giảm hoạt tính của antiproteinase do stress oxy hoá, do thuốc lá và có thể do những yếu tố nguy cơ khác của BPTNMT.

Sinh lý bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sự giới hạn lưu lượng khí thở trong BPTNMT thường không hồi phục và chỉ có một số ít có khả năng hồi phục do hiện tượng tái cấu trúc lại gây xơ hoá và hẹp đường thở nhỏ. Những vị trí thường xảy ra là các tiểu phế quản hay một số các phế quản có đường kính dưới 2mmm.Chính chúng gây ra kháng lực đường thở (tăng > 2lần so với bình thường) cho nên khi đo chức năng hô hấp thì ta có FEV1 và FEV1/FVC giảm. Trong thực tế điều này chứng tỏ có sự giới hạn lưu lượng khí. Cũng chính sự tăng kháng lực đường thở này chúng tăng số lượng phá huỷ các tế bào,tăng khí phế thủng
  • Tổn thương và khí phế thủng gây nên sự mất cân bằng giữa tỷ tưới máu và thông khí cho nên nó dẫn đến thiếu oxi máu, lúc đầu chỉ thiếu oxi máu khi gắng sức, sau đó tiến triển nặng dần dẫn đến thiếu oxi máu cả khi nghỉ ngơi.
  • Tăng áp phổi và tâm phế mạn.

Triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

Triệu chứng của BPTNMT phát triển chậm. Những triệu chứng đầu tiên có vẻ nhẹ, bệnh nhân thường cho rằng đây là chuyện không đáng quan tâm:

  1. Ho - khi đầu vào buổi sáng, sau đó dần dần ho nhiều lần suốt ngày đêm
  2. Ho ra đờm - lúc đầu ít, loãng, càng về sau càng đặc, khó khạc lên
  3. Khó thở - lúc đầu chỉ thỉnh thoảng. Khi bệnh nặng, người bệnh luôn luôn thấy khó thở, không di chuyển được - nhiều trường hợp phải dùng mặt nạ thở ôxy trường kỳ
  4. Thở khò khè hay như hen suyễn - do phế nang bị sưng và đàm làm nghẽn
  5. Mệt nhọc, thiếu sức
  6. Ngực bị nén
  7. Viêm phổi [2]

Phân loại giai đoạn lâm sàng theo GOLD 2003[sửa | sửa mã nguồn]

1. Giai đoạn 0: Những cá thể mang những yêu tố nguy cơ của bệnh.

h2. Giai đoạn I: Ho mãn tính và khạc đàm. NHững triệu chứng này có thể tồn tại rất nhiều năm trước khi có các dấu hiệu của giới hạn lưu thông khí và thường bệnh nhân không để ý những triệu chứng này

3. Giai đoạn II: Giai đoạn này bệnh nhân thường có triệu chứng khó thở khi gắng sức và đây là giai đoạn bệnh nhân thường được chẩn đoán là BPTNMT.

4. Giai đoạn III, IV: triệu chứng khó thở ngày càng nặng thêm và xảy ra thường xuyên hơn..khi nghỉ ngơi. Đây là giai đoạn có thể có những biến chứng

Phân độ trầm trọng của bệnh theo lâm sàng[sửa | sửa mã nguồn]

1. Đợt bộc phát nhẹ: một trong các triệu chứng

  1. Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên
  2. Sốt không rõ nguyên nhân
  3. Ho tăng và khi khám phổi có khả năng nghe được rale rít

2. Đợt bộc phát vừa có 2 trong ba triệu chứng

3. Đợt bộc phát nặng có 3 triệu chứng

Điều trị tóm tắt theo từng giai đoạn[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn Điều trị được khuyến cáo sử dụng
Tất cả
Tránh những yếu tố nguy cơ, Tiêm phòng cúm 0 Như trên
I Thuốc giãn phế quản tác dụng ngắn
II
Điều trị đều đặn với một hay hơn thuốc giãn phế quản, Tập luyện, Glucocorticosteroid khí dung nếu triệu chứng lâm sàng và chức năng hô hấp có đáp ứng III
Điều trị đều đặn với một hay hơn thuốc giãn phế quản,Tập luyện, Glucocorticosteroid khí dung nếu triệu chứng lâm sàng và chức năng hô hấp có đáp ứng, các đợt bộc phát cấp IV
Điều trị đều đặn với một hay hơn thuốc giãn phế quản,Tập luyện, Glucocorticosteroid khí dung nếu triệu chứng lâm sàng và chức năng hô hấp có đáp ứng, các đợt bộc phát cấp, điều trị biến chứng, oxy liệu pháp lâu dài

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]