Bệnh viện Trung ương Huế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bệnh viện Trung ương Huế

Bệnh viện Trung ương Huế, được thành lập năm 1894, là bệnh viện Tây y đầu tiên của Việt Nam.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh viện Trung ương Huế là bệnh viện Tây y đầu tiên của Việt NamĐông Dương, thành lập năm 1894. Tháng Ba năm 1961, bệnh viện đã được tân trang với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và xây thêm Khoa Nhi (cũ) với hơn 100 giường.[1]

Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phong tặng Bệnh viện danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới năm 2000, danh hiệu Bệnh viện hạng đặc biệt năm 2009. Đây là một trong ba bệnh viện đa khoa lớn và tiên tiến nhất Việt Nam (Bệnh viện Bạch Mai tại Hà Nội, Bệnh viện Chợ Rẫy tại TP Hồ Chí Minh). Đây là bệnh viện chính của khu vực miền Trung và Tây nguyên. Bệnh viện toạ lạc bên bờ Nam sông Hương, thành phố Huế.

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Là trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung và Tây Nguyên (Được xếp hạng đặc biệt từ năm 2009 cùng với 2 BV khác tại Việt nam là Bạch mai và Chợ rẫy).

Chức năng nhiệm vụ theo QĐ 890/QĐTTg, 18/9/2000 của Thủ tướng Chính phủ:

Khám & chữa bệnh tuyến cuối cho nhân dân 14 tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên từ Hà tĩnh đến Ninh thuận.

Kết hợp với Trường ĐH Y Dược Huế đào tạo cán bộ đại học và sau đại học cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

Nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác khám chữa bệnh.

Ngoài ra, còn đảm nhận các nhiệm vụ sau:

- Chỉ đạo tuyến và cử cán bộ tăng cường giúp đỡ cho các bệnh viện tuyến dưới (công tác 1816) cho 14 tỉnh của khu vực miền Trung và Tây Nguyên về 15 chuyên ngành và 10 tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên về sức khỏe sinh sản.

- Khám sức khỏe cho những người đi học tập và lao động ở nước ngoài, khám chữa bệnh cho người nước ngoài đến làm việc, học tập và du lịch tại Việt nam.

- Phòng bệnh và chống dịch

- Đào tạo Bác sĩ chuyên khoa cấp I, II (từ 2011) và đào tạo thực hành cho cán bộ y tế tại khu vực miền Trung - Tây nguyên

- Hợp tác quốc tế

- Quản lý kinh tế trong bệnh viện

Bệnh viện hiện có hơn 100 cán bộ làm công tác giảng dạy kiêm nhiệm tại ĐH Y Dược Huế.

Hàng ngày có khoảng 2500 sinh viên ĐH Y Dược, 400 học viên sau đại học, 1000 sinh viên Cao đẳng và trung học y tế và nhiều sinh viên, nội trú, BS nước ngoài,... đến học tập tại bệnh viện.

Bệnh viện và các trường phối hợp chặt chẽ trong công tác đào tạo cán bộ đại học và sau đại học (từ trung học đến tiến sĩ) cho 16 tỉnh khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Nhân lực[sửa | sửa mã nguồn]

  • Là một bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh, hạng đặc biệt, có qui mô 2102 giường bệnh nội trú và 70 giường lưu, nhưng bệnh nhân thường xuyên là từ 2200 đến 2700, thực hiện chức năng khám chữa bệnh cao nhất của khu vực miền Trung và Tây nguyên, là nơi đào tạo thực hành cho các cán bộ đại học, sau đại học, điều dưỡng...
  • Bệnh viện hiện có 2500 cán bộ viên chức, trong đó cán bộ đại học và sau đại học là 419, bao gồm 3 Thầy thuốc nhân dân, 36 Thầy thuốc ưu tú, 22 Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ và 224 Bác sĩ, Dược sĩ, CKI, CKII và Thạc sĩ. Ngoài ra còn có 152 cán bộ của Trường Đại học Y Khoa Huế làm việc tại Bệnh viện.
  • Bệnh viện Trung ương Huế có 54 Khoa Phòng gồm 31 khoa lâm sàng, 13 cận lâm sàng, 10 phòng chức năng và 05 Trung tâm: Trung tâm Huyết học Truyền máu, Trung Tâm Tim Mạch, Trung Tâm Đào Tạo, Trung Tâm Chấn Thương Chỉnh Hình và Trung tâm Ung bướu.
  • Có khả nǎng đảm nhận tốt các kỹ thuật mới của y học có trình độ phát triển kỹ thuật ngang tầm với 2 trung tâm lớn là Hà Nội và TP HCM

Triển khai kỹ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếp nhận hàng năm khoảng hơn 80.000 bệnh nhân điều trị nội trú (năm 2010 là 84.000), hơn 350.000 lượt bệnh nhân điều trị ngoại trú (năm 2010 là 370.000), điều trị cho rất nhiều bệnh nhân người nước ngoài du lịch, công tác và làm việc tại khu vực miền Trung và Thừa thiên - Huế. Phẫu thuật hơn 24.000 ca/năm (33 phòng mổ). Bệnh viện Trung ương Huế triển khai đồng bộ các kỹ thuật cao theo chuẩn của Trung tâm y tế chuyên sâu, bao gồm:

  • Triển khai thận nhân tạo (từ nǎm 1982). Ghép thận (năm 2001), đến nay thực hiện thành công 36 cặp, 100% đều khoẻ mạnh, là đơn vị đầu tiên của Việt nam thực hiện lấy thận ghép nội soi (2002).
  • Trung tâm tim mạch: Triển khai mổ tim kín (từ năm 1986), tim hở (từ năm 1999). Đến nay đã mổ tăng hơn 1000 ca/năm, tổng số khoảng hơn 10000 trường hợp. Can thiệp cấp cứu tim mạch từ 300-500 ca/năm. Đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn (năm 1996), chụp, nong, đặt stent (1998), nối bắc cầu ĐMV (1999) đã nối tới 3 cầu, ngoài ra còn thực hiện tất cả các loại phẫu thuật tim hở từ tim bẩm sinh cho tới động mạch vành. Là cơ sở được nhà nước cho phép thực hiện ghép tim trên người cho chết não (từ 2010).
  • Đặc biệt, ngày 2.3.2011, Bệnh viện đã thực hiện thành công trường hợp ghép tim đầu tiên trên người cho chết não với kỹ thuật bicaval (trên 1 bệnh nhân 26 tuổi, suy tim độ IV do viêm cơ tim). Đây cũng là trường hợp ghép tim đầu tiên ở Việt nam được thực hiện hoàn toàn bởi các thầy thuốc Việt nam (Ê kíp của Bệnh viện Trung ương Huế).
  • Nội soi can thiệp (1990) đến nay đã thực hiện hầu hết các kỹ thuật về nội soi can thiệp: ERCP - SE lấy sỏi mật, đặt stent đường mật, ống tiêu hóa, tiêm cầm máu ổ loét chảy máu, thắt tĩnh mạch trướng thực quản, mở thông dạ dày, nối nang giả tuỵ với dạ dày,...
  • Phẫu thuật nội soi từ 1999, đến nay đã thực hiện tốt trong tất cả các lĩnh vực: tiêu hóa, chấn thương chỉnh hình, thần kinh,tiết niệu, sản phụ khoa,... như cắt thực quản, dạ dày nội soi, cắt đại trực tràng nội soi, cắt gan, tuỵ nội soi, phẫu thuật nội soi 1 lỗ, nội soi phá sàn não thất, cắt thận, ghép, bệnh lý niệu quản khúc nối, nhi,... cùng nhiều loại phẫu thuật nội soi khó và phức tạp khác.
  • Trung tâm Huyết học truyền máu: Thực hiện hầu hết các kỹ thuật hiện đại về ATTM (HbsAg, HBsCg, HbsEg, HIV...). Ngoài ra còn có nhiệm vụ đào tạo CBĐH, SĐH và chỉ đạo tuyến cần 14 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.
  • Phụ sản: có nhiệm vụ đào tạo CBĐH, SĐH và chỉ đạo 10 tỉnh miền Trung và Tây Nguyên về chǎm sóc sức khỏe sinh sản. Trung tâm điều trị hiếm muộn-vô sinh giai đoạn IUI, IVF,... là đơn vị triển khai thành công kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và trữ lạnh phôi thủy tinh hóa đầu tiên và duy nhất tại miền Trung, từ năm 2008 đến nay có hàng trăm trẻ sơ sinh ra đời theo phương pháp IVF.
  • Cận lâm sàng: thực hiện được tất cả những yêu cầu các kỹ thuật tiên tiến đã triển khai của bệnh viện trên cả nước, kể cả ghép tủy (2000),...
  • Nhìn chung Bệnh viện là đơn vị thực hiện được hầu hết các kỹ thuật của tất cả các chuyên khoa trong danh mục phân tuyến kỹ thuật của ngành y tế (3040 kỹ thuật các loại). Hàng năm, hàng trăm kỹ thuật mới được triển khai thực hiện tại Bệnh viện

Các công trình đã khánh thành[sửa | sửa mã nguồn]

1. Khánh thành khu nhà hậu cần 6 tầng trên nguồn vốn đối ứng 25 tỷ đồng (tháng 4.2008), với hơn 7000m², hội trường 512 chỗ, căng tin 1200m²,...

2. Khánh thành Trung tâm Huyết học truyền máu miền Trung vào 12.2008 (6000m²), do World Bank tài trợ (8 triệu đô la)

3. Trung tâm Đào tạo - Khoa mắt, nguồn vốn hơn 5 triệu đô la do AP tài trợ, khánh thành 12.2009

4. Bệnh viện Quốc Tế Trung Ương Huế với nguồn vốn 200 tỷ, 300 giường với diện tích trên 10.000m2, khánh thành 3/2014

Tiếp tục triển khai dự án xây dựng Trung tâm y tế chuyên sâu giai đoạn II[sửa | sửa mã nguồn]

1.Khởi công những hạn mục còn lại của Bệnh viện Quốc Tế trung ương huế

2. Tiếp tục hoàn thành Trung tâm Ung bướu với 7 tầng, 14000m². Gồm 17.000.000.00 Euro trang thiết bị: dao Gama thế hệ mới, 2 máy gia tốc tuyến tính kèm hệ thống mô phỏng, Pet CT, MRI focus, hệ thống xạ trị trong mổ, 2 phòng mổ, 300 giường bệnh,... do tổ chức VAMED Áo tài trợ và 200 tỷ tiền xây dựng cơ bản dựa trên nguồn vốn kích cầu (Khởi công 2010) (dự kiến hoàn thành 2016)

3. Trung tâm Phụ sản với 6 tầng - 300 giường, 5 phòng mổ - 15 phòng sinh với các trang thiết bị hiện đại (do AP tài trợ)

3. Khu vực ngoại vi cho các liên chuyên khoa hệ nội (với các toà nhà 6 tầng, tổng diện tích 15000 m²)

4. Khu vực dành cho các khoa ngoại với 6 tầng, 500 giường bệnh, tổng diện tích 14.000 m²

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Điều dưỡng và Nhi khoa." Thế giới Tự do Số 4, Tập X. Sài Gòn: Sở Thông tin Hoa Kỳ, 1961. tr 30

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

1. "OutLine of Hue Central Hospital". Japan International Cooperation Agency. Truy cập 2008-12-07.

2."Project for Improvement of Medical Service in the Central Region". Japan International Cooperation Agency. Truy cập 2008-12-07.

3. "Surgeon makes Hue hospital a heart haven". VNS. Truy cập 2008-12-07.

4 "Hue central hospital to build modern tumour centre". Vietnam News Agency. Truy cập 2008-12-07.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]