Bệnh viện Việt Đức

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

21°01′42″B 105°50′49″Đ / 21,028435°B 105,847019°Đ / 21.028435; 105.847019

Bệnh viện Việt Đức
Tên gọi khác Nhà thương bản xứ
Nhà thương bảo hộ - Hôpital indigène du Protectorat
Bệnh viện Yersin
Bệnh viện Phủ Doãn
Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - CHDC Đức
Bệnh viện hữu nghị Việt Đức
Khẩu hiệu
Năm thành lập 1906
Loại hình Bệnh viện
Giám đốc {{{Giám đốc}}}
Giám đốc Nguyễn Tiến Quyết
Phó giám đốc Trần Bình Giang
Hà Văn Quyết
Đinh Mạnh Huy
Nguyễn Văn Thạch
Trịnh Hồng Sơn
Nhân viên  ?
Giường bệnh 500
Địa chỉ 40 phố Tràng Thi - Hà Nội - Việt Nam
Thành phố Hà Nội
Tỉnh
Nước Việt Nam
Điện thoại +84-04-38.253.531
Email bvvd@fpt.vn / vduh@fpt.vn
Website vietduchospital.edu.vn

Bệnh viện Việt Đức là một bệnh viện ngoại khoa, là một trong những trung tâm phẫu thuật lớn nhất Việt Nam, gắn với tên tuổi nhà phẫu thuật nổi tiếng Tôn Thất Tùng. Bệnh viện có trụ sở tại số 40 phố Tràng Thi, Hà Nội, Việt Nam

Tổng quan (*)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 8 tháng 1 năm 1902, Toàn quyền Đông Dương là Paul Doumer ký sắc lệnh thành lập trường Đại học Y Hà Nội. Năm 1904 bệnh viện thực hành của trường được xây dựng với tên gọi là Nhà thương bản xứ.

Theo thời gian, bệnh viện mang các tên gọi khác nhau qua từng giai đoạn phát triển:

  • Nhà thương bản xứ (1904-1906)
  • Nhà thương bảo hộ (1906-1943)
  • Bệnh viện Yersin (1943-1954)
  • Bệnh viện Phủ Doãn (1954-1958)
  • Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - CHDC Đức (1958-1991)
  • Bệnh viện Việt Đức (1991 đến nay)

Bệnh viện Việt - Đức ngày nay tọa lạc trên khuôn viên cũ của Nhà thương bản xứ hơn 100 năm trước có diện tích mặt bằng khoảng 30.000 mét vuông giữa trung tâm thủ đô Hà Nội với 3 mặt giáp đường Tràng Thi, Phủ Doãn, Quán Sứ.

Bệnh viện Việt Đức là tuyến cao nhất của ngành Ngoại khoa miền Bắc, Việt Nam. Với hơn 150 giáo sư, bác sỹ của bệnh viện và của trường Đại học Y Hà Nội, mỗi năm bệnh viện tiến hành khoảng 28.000 ca phẫu thuật thuộc nhiều chuyên khoa sâu khác nhau.

Bệnh viện có 08 phòng chức năng, 18 khoa lâm sàng, 09 khoa cận lâm sàng và 01 đơn vị trực thuộc cùng với 05 bộ môn của trường đại học Y Hà Nội đặt tại bệnh viện thực hiện các chức năng:

  • Cấp cứu, khám chữa bệnh
  • Đào tạo
  • Nghiên cứu khoa học
  • Chỉ đạo chuyên khoa
  • Phòng bệnh
  • Hợp tác quốc tế
  • Quản lý kinh tế

Các Khoa Phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Khối Lâm sàng[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm 19 khoa:

  • Khoa Gây mê Hồi sức
  • Khoa Khám bệnh
  • Khoa Phẫu thuật Sọ não (1A)
  • Khoa Phẫu thuật Tim Mạch (1B)
  • Khoa Điều trị tự nguyện (1C)
  • Khoa Phẫu thuật Nhi (2)
  • Khoa Phẫu thuật Tiêu hóa (3-4)
  • Khoa Phẫu thuật Chấn thương Chỉnh hình (5-6)
  • Khoa Phẫu thuật Cấp cứu bụng (7-8)
  • Khoa Phẫu thuật Nhiễm khuẩn (13)
  • Khoa Phẫu thuật Tiết niệu (14)
  • Khoa Điều trị tự nguyện ban ngày (15)
  • Khoa Phẫu thuật Gan mật (16-17)
  • Khoa Phẫu thuật Cột sống
  • Khoa Thận -Lọc máu
  • Khoa Nội soi
  • Khoa Phẫu thuật Hàm mặt và Tạo hình
  • Khoa Khám xương
  • Trung tâm Nam học

Khối Cận lâm sàng[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm 09 khoa và 01 đơn vị:

  • Khoa Dược
  • Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn
  • Khoa Chẩn đoán hình ảnh
  • Khoa Hoá sinh
  • Khoa XN Huyết học
  • Khoa Vi sinh
  • Khoa Phục hồi chức năng
  • Khoa Giải phẫu bệnh
  • Khoa Truyền máu
  • Đơn vị Laser Y học

Khối Hậu cần[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm 8 phòng:

  • Phòng Kế hoạch tổng hợp
  • Phòng Tổ chức cán bộ
  • Phòng Hành chính quản trị
  • Phòng Vật tư thiết bị Y tế
  • Phòng Tài chính Kế Toán
  • Phòng Điều dưỡng
  • Phòng Chỉ đạo chuyên khoa
  • Phòng NCKH & CNTT

Những thành tựu khoa học chính (**)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phẫu thuật tim mạch: Mổ tim mở (open heart surgery) được tiến hành thường quy, các kỹ thuật khó: thay van tim, kỹ thuật Bentall, bắc cầu mạch vành, mổ nối mạch ở tim đang đập (không dùng máy phổi nhân tạo)[cần dẫn nguồn].
  • Phẫu thuật Thần kinh: mổ chấn thương sọ não, bệnh ở não - tuỷ sống: mổ u tuyến yên qua xoang bướm, mổ u thần kinh VIII qua mê nhĩ (có sử dụng dao siêu âm)[cần dẫn nguồn].
  • Phẫu thuật Nội soi và nội soi can thiệp:
    • Mở thông dạ dày qua nội soi, chụp đường mật tuỵ (ERCP) lấy sỏi giun qua nội soi...[cần dẫn nguồn]
    • Cắt nội soi u phì đại tuyến tiền liệt (TUR)[cần dẫn nguồn].
    • Phẫu thuật nội soi ổ bụng được áp dụng từ 1993. Các loại phẫu thuật: cắt túi mật, cắt u tuyến thượng thận, cắt dây thần kinh X, u nang buồng trứng, cắt lách, cắt ruột thừa bằng nội soi (laparoscopy) an toàn, tai biến ít, giảm ngày điều trị, phục hồi sau mổ nhanh[cần dẫn nguồn].
  • Phẫu thuật gan mật tuỵ:
    • Cắt gan các loại do ung thư, bệnh gan mật và chấn thương[cần dẫn nguồn].
    • Điều trị phẫu thuật sỏi mật trong và ngoài gan.[cần dẫn nguồn]
    • Sử dụng nội soi đường mật để chẩn đoán và điều trị (tán sỏi) qua da hay trong mổ.[cần dẫn nguồn]
    • Sử dụng dao siêu âm trong cắt gan (ít chảy máu, nhanh).[cần dẫn nguồn]
    • Các phẫu thuật về biến chứng chảy máu do xơ gan - tǎng áp lực tĩnh mạch cửa (phân lưu cửa chủ).[cần dẫn nguồn]
    • Thực hiện thành công ca ghép gan trên người lớn đầu tiên ở Việt Nam (2007).[cần dẫn nguồn]
  • Phẫu thuật Chấn thương chỉnh hình: các loại chấn thương, thay khớp háng (một bên hay toàn bộ), nội soi khớp...[cần dẫn nguồn]
  • Phẫu thuật tiêu hoá với các kỹ thuật khó phức tạp như cắt bỏ và tạo hình thực quản, cắt khối tá tuỵ, cắt toàn bộ dạ dày, cắt đại tràng các loại... [cần dẫn nguồn]
  • Điều trị tán sỏi thận ngoài cơ thể bằng máy tán sỏi hiện đại, đạt tỷ lệ khỏi cao trong lần tán đầu tiên và an toàn. Phối hợp tán sỏi qua da, qua nội soi (niệu quản) giải quyết các loại sỏi tiết niệu.[cần dẫn nguồn]
  • Hỗ trợ và đào tạo chuyên môn trong các trường hợp ghép thận ở các trung tâm khác trong cả nước từ nǎm 1992 và nǎm 2000 bắt đầu tiến hành ghép thận ở Bệnh viện.[cần dẫn nguồn]
  • Là cơ sở cung cấp máu lớn ở Việt Nam, cung cấp cho nhiều bệnh viện ở Hà Nội, mỗi nǎm sử dụng trên 2.300 lít máu. Triển khai thường quy các kỹ thuật tiên tiến: tách các thành phần máu và truyền máu từng phần.[cần dẫn nguồn]
  • Trong chẩn đoán, có sử dụng các kỹ thuật cao như ứng dụng hoá mô miễn dịch (immuno histochemistry), miễn dịch huỳnh quang (immuno fluorescence), sinh thiết tức thì... trong giải phẫu bệnh - pháp y, siêu âm đen trắng và siêu âm màu (Echo Doppler), chụp mạch điều trị...[cần dẫn nguồn]
  • Bước đầu sử dụng Laser - quang động học liệu pháp (PDT) trong điều trị bệnh ung thư não, bàng quang, trĩ, rò hậu môn và một số các bệnh khác2[cần dẫn nguồn]

Giám đốc qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Các vị Giám đốc tiền nhiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Ban giám đốc đương nhiệm 2008[sửa | sửa mã nguồn]

Tên tuổi[sửa | sửa mã nguồn]

GS Tôn Thất Tùng[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Tôn Thất Tùng

Năm 1954, GS Tôn Thất Tùng được bổ nhiệm làm Giám đốc bệnh viện Việt Đức và Chủ nhiệm bộ môn Ngoại Đại Học Y Hà Nội. Trong suốt gần 30 năm đảm nhiệm những cương vị này, ông đã đào tạo được nhiều thế hệ bác sỹ Ngoại khoa tài năng và tâm huyết, xây dựng phong cách làm việc khoa học và nghiêm túc, hết lòng vì bệnh nhân.[cần dẫn nguồn]

Ông là một trong số những nhà giáo được phong Giáo sư đầu tiên của Việt nam.[cần dẫn nguồn] Ông được nhận danh hiệu Anh hùng lao động (1962) và nhiều huân chương cao quý khác. Ông được phong chức danh Viện sỹ bởi nhiều Viện hàn Lâm lớn trên thế giới như: Viện Hàn lâm Y học Liên Xô (cũ), Viện Hàn lâm Phẫu thuật Pari...[cần dẫn nguồn]

Để ghi nhớ công lao to lớn của GS Tôn Thất Tùng, năm 2000, Bộ Y tế đã quyết định thành lập một giải thưởng khoa học mang tên ông để trao tặng cho các nhà phẫu thuật có thành tích xuất sắc nhằm khích lệ các thầy thuốc ngoại khoa đặc biệt là các bác sỹ trẻ cống hiến tài năng và sức lực xây dựng nền y học nước nhà ngày một phát triển.[cần dẫn nguồn] Lễ trao thưởng được tổ chức hàng năm vào ngày sinh của GS Tôn Thất Tùng, 7/5.[cần dẫn nguồn]

Tại bệnh viện Việt Đức, một phòng lưu niệm đã được thành lập để lưu giữ những di sản, tư liệu liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của ông.[cần dẫn nguồn] Phòng lưu niệm được xây dựng bên cạnh Khu nhà Mổ nơi học trò và đồng nghiệp của ông vẫn ngày đêm miệt mài kế tục sự nghiệp mà ông đã dày công vun đắp. Hiện nay phòng lưu niệm này trở thành phòng lưu niệm chung của ông và con trai là PGS Tôn Thất Bách đã đột ngột qua đời vì bệnh tim mạch.[cần dẫn nguồn]

Tại trường Đại học Y Hà Nội, các bức ảnh của ông được phóng to và treo ở những vị trí trang trọng nhất trong Đại sảnh nhà hiệu bộ và phòng đọc Thư viện.[cần dẫn nguồn] Tên của ông cũng được đặt cho con đường chạy trước trường đại học này.

Và những tên tuổi lớn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều tên tuổi lớn của y học Việt Nam đã từng gắn bó với bệnh viện Việt Đức trong quá trình giảng dạy, học tập cũng như công tác:

Quan hệ Viện-Trường[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh viện Việt Đức và Trường đại học Y Hà Nội luôn có mối quan hệ khăng khít truyền thống. Nhà thương bản xứ (tiền thân của Bệnh viện Việt Đức) được toàn quyền Paul Doumer thành lập để làm bệnh viện thực hành cho trường cao đẳng Y khoa Đông Dương (tiền thân của Đại học Y Hà Nội)[cần dẫn nguồn]

Bệnh viện Việt Đức luôn xác định trách nhiệm trực tiếp đào tạo chuyên ngành Ngoại khoa cho sinh viên Đại học Y khoa Hà Nội không chỉ khi còn là bệnh viện thực hành trực thuộc Trường trong quá khứ mà liên tục tiếp nối trong mọi hoàn cảnh lịch sử cho đến hôm nay.[cần dẫn nguồn]

Tên giao dịch quốc tế của bệnh viện là VIET DUC UNIVERSITY HOSPITAL & HÔPITAL UNIVERSITAIRE VIET DUC.[cần dẫn nguồn]

PGS. TS. Nguyễn Tiến Quyết, phó chủ nhiệm Bộ môn Ngoại, Giám đốc bệnh viện nói tại buổi giao ban toàn viện hôm 20/11/2007 là theo ông thì "cần phải coi tiêu chí đánh giá tài năng của một con người qua việc đào tạo thế hệ đi sau là một tiêu chí quan trọng"[cần dẫn nguồn]

Trước đó, trả lời phỏng vấn của VOVnews nhân dịp kỉ niệm 100 năm thành lập bệnh viện, ông khẳng định bệnh viện Việt Đức là trung tâm Viện - Trường của trường đại học Y khoa Hà Nội, "hiện chúng tôi có 150 giáo sư bác sỹ của bệnh viện và trường đại học Y khoa HN làm việc ở đây, vừa khám chữa bệnh vừa tham gia công tác đào tạo"[cần dẫn nguồn]

Tham gia công tác[sửa | sửa mã nguồn]

Có 5 bộ môn của Trường Đại Học Y đóng tại Bệnh viện Việt Đức vừa giảng dạy vừa tham gia công tác chuyên môn của bệnh viện.[cần dẫn nguồn]

  • Bộ môn Ngoại
  • Bộ môn Gây mê-Hồi sức
  • Bộ môn Chẩn đoán hình ảnh
  • Bộ môn Y Pháp
  • Bộ môn phẫu thuật tạo hình

Đào tạo Bác sỹ Nội Trú Là hình thức học sau đại học đặc thù chỉ có trong ngành y được du nhập từ Pháp với mục đích đào tạo ra những bác sỹ có trình độ chuyên sâu. Thời gian học là 3 năm.

Để được chuyển tiếp lên học Bác sỹ nội trú, các Bác sỹ y khoa vừa ra trường phải đạt được những điều kiện sàng lọc trước khi trải qua một kì thi lý thuyết rất khó khăn. Mỗi năm, số lượng bác sỹ đỗ Nội trú bệnh viện khá ít. Có nhiều khoa chỉ lấy 1-2 chỉ tiêu.

Ưu điểm của việc đào tạo bác sĩ nội trú là tạo ra một đội ngũ kế cận có tư chất tốt, có nhiều điều kiện để trở thành các chuyên gia trong lĩnh vực họ được đào tạo. Họ là những người được hi vọng sẵn sàng tiếp thu và chuyển giao nguồn tri thức phong phú và kinh nghiệm quý báu trong ngành. Vì vậy trong quá trình học, các bác sĩ nội trú được yêu cầu phải thường xuyên gắn bó với bệnh viện và bệnh nhân. Họ thường trú tại các khu KTX ngay trong viện.

Mô hình đào tạo bác sĩ nội trú về cơ bản là mô hình đào tạo tinh hoa và thực chất. Các bác sĩ nội trú hầu hết ra trường đều được công tác tại các bệnh viện đầu ngành.

Bệnh viện Việt Đức là nơi đào tạo chủ lực bác sĩ nội trú cho các chuyên ngành Ngoại khoa, Gây mê hồi sức, Chẩn đoán hình ảnh và Phẫu thuật tạo hình của Phía Bắc, là bệ phóng cho nhiều tài năng y học phát triển trở thành những nhà phẫu thuật, những chuyên gia giỏi góp phần đắc lực vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.

Phong tặng[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh viện đã được nhà nước Việt Nam phong tặng các huân chương và danh hiệu sau:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn tham khảo và trích dẫn:

(*) Giới thiệu chung, PGS. TS. Nguyễn Tiến Quyết, website bệnh viện Việt Đức http://www.vietduchospital.edu.vn/GioiThieu.asp?Key='0'

(**) Lịch sử phát triển, website bệnh viện Việt Đức http://www.vietduchospital.edu.vn/LichsuBV.asp?Key='0'

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chức vụ Tên Kiêm nhiệm
Giám đốc bệnh viện: PGS. TS. Nguyễn Tiến Quyết Phó chủ nhiệm bộ môn Ngoại, Đại học Y Hà Nội
Phó giám đốc bệnh viện: GS. TS. Hà Văn Quyết Chủ nhiệm bộ môn Ngoại, Đại học Y Hà Nội

Chủ nhiệm khoa Ngoại Bệnh viện đại học Y Hà Nội http://www.ngoaikhoa.vn/Danhsach/Ban_chu_nhiem_khoa/