Bồn Man

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Loạt bài
Các vương quốc cổ ở Việt Nam
Bản đồ Việt Nam
Nam Việt (207 - 111 TCN)
Phù Nam (1 - 630)
Chăm Pa (192 - 1832)
Thủy Chân Lạp (717 - 877)
Sedang (1888 - 1890)
Bồn Man (1369 - 1478)
Tiểu quốc Jarai (TK 15- TK 19)
Tiểu quốc Mạ (TK 15 - TK 17)
Tiểu quốc Adham (TK 18 -TK 19)
sửa
LỊCH SỬ LÀO
That Louang Vientiane.jpg
Lịch sử Lào thời tiền sử
Bồn Man
Muang Sua
Vương quốc Lan Xang (1353 - 1707)
Thời kỳ phân liệt (1707 - 1779)
   Vương quốc Viêng Chăn
   Vương quốc Luangprabang
   Vương quốc Champasak
Thuộc Xiêm (1779-1893)
Thuộc Pháp (1893-1949)
Vương quốc Lào (1950-1975)
CHDCND Lào (1975-nay)
sửa

Bồn Man, còn gọi là Mường Bồn hay Muang Phuan, và sau là Trấn Ninh, là một quốc gia cổ, nay không còn, từng tồn tại trên bán đảo Đông Dương, tại vị trí ngày nay thuộc tỉnh Xiêng Khoảng, một phần các tỉnh Hủa Phăn đến Khăm Muộn, ở phía Đông nước Lào, và một phần các tỉnh miền Bắc Trung bộ Việt Nam (khoảng Nghệ An đến Quảng Bình).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Dân tộc Tai Phuan hoặc người Phuan là một nhóm dân tộc Thái-Lào theo Phật giáo, di cư đến (Ai Lao) Lào từ miền Tây Nam Trung Quốc. Khoảng cuối thế kỷ 13 đã hình thành bộ lạc độc lập sống tập trung ở cánh đồng Chum (trên cao nguyên Xiêng Khoảng). Tiểu quốc Bồn Man của người Thái (Tai Phuan) này được thành lập vào khoảng năm 1369 sau khi nhà Nguyên mất quyền kiểm soát ở Vân Nam vào tay nhà Minh - Trung Quốc. Các bộ tộc người Thái ở phía nam Vân Nam giành được cơ hội độc lập trong lãnh thổ họ cư trú. Ranh giới Bồn Man với phía Bắc, phía Tây và phía Nam là vương quốc Lan Xang (Lão Qua) cũng của người Thái-Lào, phía đông là Đại Việt. Ban đầu, khoảng nửa cuối thế kỷ 14, Bồn Man (Muang Phuan) được hợp nhất vào Lan Xang (Lão Qua) dưới thời vua Fa Ngum[1][2]. Vương quốc Bồn Man được các tù trưởng thuộc dòng họ Cầm (Lư Cầm) cai trị, với thủ đô là Xieng Khouang (hay Trình Quang, tức Muang Khoun ngày nay), nhưng theo Đại Việt sử ký toàn thư thì thủ phủ ở Sầm Nưa (ngày nay là thị xã Sầm Nưa của Lào)[cần dẫn nguồn], dân số ước chừng 9 vạn hộ[3]. Tuy nhiên, tiểu quốc Bồn Man đã có một quyền tự chủ cao trước Lan Xang, mặc dù họ đã phải cống nạp thuế cho Lan Xang.

Theo cuốn Lịch sử Lào của M.L. Manich thì: Từ thời vua Piloko thế kỷ thứ 7, hoàng tử Chet Chuang con trai Piloko, đã được gửi đến cai trị Xieng Khouang. Sau đó Mường Puan hoặc Xieng Khouang được thành lập bởi hoàng tử Chet Chuang, khoảng năm 698. Từ đó Chiềng Khuoang Mường Puan trở thành một quốc gia bộ lạc tồn tại độc lập bên cạch các quốc gia nối tiếp nhau của người Thái-Lào: Chiengsen, Sukhothai và sau đó là Lan Xang của Fagnum (Phà Ngừm). Đến thời Phà Ngừm, ông chinh phục được các vương quốc Lào cổ trong đó có cả Chiềng Khouang, nhập vào Lan Xang. Riêng Mường Puan (Bồn Man), Fagnum thu nạp được là nhờ có việc liên kết, vào năm 1349, với hoàng tử Khio Kamyor, con của tù trưởng Xieng Khouang lúc đó là Chao Kamphong, chống lại cha minh (Chao Kamphong).

Tên của các vị tù trưởng (vua) của Bồn Man, cai trị Chiềng Khuoang sau Chet Chuang, cho đến trước thời nước Lan Xang ra đời bên cạch Bồn Man, là: Chetchuan, Chetchod, Chetchue, Chetchan, Chetyod Yohkam, Chao Pra Yeehin, Chao Pra Kue, Chao Kamlun, Chao Kampeng, Chao Kamkhod, Chao Kamrong, Chao Kamchaek, Chao Kamphan, Chao Ruea, Chao Rueang (chỉ như là nhiếp chính), Chao Kampin (con trai của Kamphan), Chao Kamton, Chao Kamtodsak, Chao Kamkuon, Chao Kamluon, Chao Kamnah, Chao Kamtao, Chao Kamkao, Chao Kamphong.[4]

Xung đột với Đại Việt[sửa | sửa mã nguồn]

Nguyên do một phần đất Bồn Man đã xin nội thuộc Đại Việt dưới triều Hoàng đế Lê Nhân Tông, được vua Nhân Tông nhập vào nước Đại Việt, thành châu Quy Hợp xứ Nghệ An và cử quan quân sang, nhưng vẫn cho họ Lư Cầm đời đời làm Phụ đạo.

Năm 1478, Cầm Công (hay Lư Cầm Công thủ lĩnh của Bồn Man) liên kết với Lão Qua đem binh quấy nhiễu (châu Quy Hợp) khu vực phía tây xứ Nghệ của Đại Việt. Hoàng đế Lê Thánh Tông sai các tướng Lê Thọ Vực, Trịnh Công Lệ đánh Ai Lao. Quân Lê đi chia làm 5 đạo từ Nghệ An, Thanh Hóa, Hưng Hóa, đánh bại quân Bồn Man và Lão Qua, đồng thời đánh đuổi tới lưu vực sông Mê Kông giáp với Miến Điện ngày nay. Theo Việt Nam sử lược thì: Sau khi Cầm Công bị giết, vua Lê Thánh Tông đã sát nhập lãnh thổ Bồn Man vào Đại Việt, đặt tên là xứ Trấn Ninh và giao cho một người họ hàng của Cầm Công là (Lư) Cầm Đông làm Tuyên úy Đại sứ và đặt các quan cai trị (Quy Hợp) như trước.[5]. Vùng đất này đặt thành phủ Trấn Ninh, gồm 7 huyện là Kim Sơn, Thanh Vị, Cảnh Thuần, Quang Vinh, Minh Quảng, Châu Lang, Trung Thuận.

Phụ thuộc vào Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lãnh thổ Bồn Man thuộc về Việt Nam từ năm 1479 (ít phụ thuộc Lão Qua (Lan Xang) hơn), nhưng dưới hình thức tự trị (bán độc lập), cho thổ quan là người họ Cầm cai quản, mà không cử lưu quan sang cai trị. Về mặt hành chính, lãnh thổ Bồn Man được Đại Việt xem là thuộc xứ Nghệ An của Đại Việt. Năm 1707, khi nhà nước Lan Xang phân rã thành 3 tiểu quốc nhỏ: Viên Chăn (Vạn Tượng), Nam Chưởng (Luông Pra Băng) và Chăm Pa sắc, thì Muang Phuan (Trấn Ninh) cũng thành một tiểu quốc độc lập với 3 tiểu quốc kia của người Lào (Ai Lao).

Vào khoảng thời gian 1763-1770, trong thời Lê trung hưng, Trấn Ninh (với cả Sầm Châu và Trình Quang) bị Lê Duy Mật chiếm đóng (bắt giam tù trưởng Trấn Ninh là (Lư) Cầm Hương), chống lại nhà Lê-Trịnh[6]. Trịnh Sâm điều quân sang đánh dẹp Lê Duy Mật, lập lại trấn Ninh và giao cho cháu Cầm Hương là Lư Cầm Uẩn làm tù trưởng. Đến cuối thế kỷ 18 (thập niên 1770), vương quốc Xiêm đã hình thành và lớn mạnh, thì Muang Phuan (Trấn Ninh), trở thành một chư hầu của Xiêm, nhưng vẫn triều cống Đại Việt.

Thời nhà Tây Sơn Việt Nam, các tù trưởng Trấn Ninh, theo Xiêm và Vạn Tượng (Viêng Chăn) chống lại nhà Tây Sơn. Năm 1791, Trần Quang Diệu mang 3 vạn quân sang Trấn Ninh bắt được các tù trưởng Thiệu Kiểu, Thiệu Đế của trấn Ninh. Thời nhà Nguyễn, Gia Long đem đất Trấn Ninh cắt về cho vương quốc Vạn Tượng của A Nỗ (Anouvong). Nhưng khi Chiêu Xanh, tù trưởng trấn Ninh khi ấy chết, A Nỗ không lập con Chiêu Xanh là Chiêu Nội (Chao Noi) lên, nên Chiêu Nội thù A Nỗ, đồng thời Chiêu Nội chạy sang phủ Trà Lân xứ Nghệ và xin nội thuộc lại Đại Nam (nhà Nguyễn). Đến khi A Nỗ chống lại nước Xiêm, bị người Xiêm (sai Chao Phraya Bodin Decha) đánh cho thua chạy sang Nghệ An, qua trấn Ninh bị Chiêu Nội bắt nộp cho Xiêm năm 1828[7]. Chiêu Nội bị Minh Mạng khép tội chết vì hành động này.

Sau khi giết Chiêu Nội, nhà Nguyễn cử quan Việt sang cai trị Trấn Ninh. Năm 1823, nhà Nguyễn đặt thêm huyện Liêm. Phủ Trấn Ninh vậy bao gồm các Liên, Khâm, Quảng, Khang, Cát, Xôi, Mộc, Liêm (vốn là mán Mường Hiểm). Những năm 1833-1834, trong chiến tranh Việt-Xiêm, người Thái tấn công Đại Nam (một trong các hướng là qua ngả Trấn Ninh), đất Trấn Ninh bị người Thái lấn dần. Khi người Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, năm 1893, đã dựa theo địa hình và cắt tỉnh Houaphan (Hủa Phăn), Xiêng Khoảng giao về lãnh thổ Lào (Ai Lao).

Trấn Ninh năm 1893

. Tháng 3/1832, nổ ra cuộc khởi nghĩa của hơn 200 binh lính Trấn Ninh, do Trần Tứ và Đỗ Bắc lãnh đạo, nổi dậy chống nhà Nguyễn và liên kết với cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Lương.

Lãnh thổ[sửa | sửa mã nguồn]

Lãnh thổ của Bồn Man xưa thuộc khu vực phía tây của xứ Nghệ (tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay), tức là tỉnh Xiêng Khoảng[8] và một phần tỉnh Hủa Phăn, đến châu Quy Hợp[9] (vùng biên giới tỉnh Khăm Muộn (Lào) với Hà TĩnhQuảng Bình Việt Nam ngày nay). Xiêng Khoảng ở phía Tây Nghệ An, Hủa Phăn ở Tây Bắc Nghệ An. Theo Phan Huy Chú, phủ Lâm An xứ Nghệ vốn trước là phần đất của Bồn Man chư hầu của Ai Lao, đến năm 1448 niên hiệu Thái Hòa thứ 5, tù trưởng vùng này sang thần phục nhà Lê, Lê Nhân Tông cho nhập vào Đại Việt đổi tên thành Quy Hợp, địa giới nằm ở tận cùng phía tây xứ Nghệ. Năm 1828 Quy Hợp được đổi thuộc phủ Trấn Tĩnh.

Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thì: đến đời trấn quận (tức khi thành trấn Ninh) nhà Lê lấy thêm được đất Hô Mường ở phía Bắc, tức là đất thuộc Lão Qua (Lan Xang) xưa cho gộp vào trấn Ninh (Hô Mường (Huameuang) vùng đất nay là tỉnh Hủa Phăn Lào). Phía Tây Trấn Ninh tiếp giáp với Ai Lao, (sửa sang nhà cửa, đóng ở Trình Quang) tức là lấy Trình Quang (Xiêng Khoảng) làm lỵ sở.[10]

Theo Đại Việt địa dư toàn biên của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu thì: Phủ Trấn Ninh, lĩnh 8 huyện ở phía tây tỉnh thành (Nghệ An) (chưa rõ bao dặm). Trước là đất Bồn Man. Đời Lê khoảng năm Hồng Đức, Thánh Tông sai Lê Thọ Vực, Trịnh Công Lệ đánh phá Ai Lao, lấy đất đặt làm phủ này. Trước lĩnh 7 huyện là Kim Sơn, Thanh Vị, Cảnh Thuần, Quang Vinh, Minh Quảng, Châu Lang, Trung Thuận. Đời Lê trở về trước, đều do thổ tù thế tập, đất rộng, dân đông, đứng đầu các mán.... Năm Minh Mệnh thứ 8 (1828),..., tù trưởng Trấn Ninh là Chiêu Nội biếu sổ nhân dân thổ địa, xin theo vào nước ta (Đại Nam), vua bèn cho Chiêu Nội làm Trấn Ninh phòng ngự sử,... Sau Chiêu Nội có tội bị giết. Triều đình (nhà Nguyễn) mới đặt lưu quan để cai trị. Năm Minh Mạng 13 (1833), lại đặt thêm huyện Liêm. Huyện Liêm (vốn là mán Mường Hiểm (nay thuộc huyện Viengthong, Hủa Phăn, nước Lào hiện đại) gồm 2 tổng, 3 bạn (bản)), huyện Khâm (tức Kham của Xiêng Khoảng hiện đại) (3 tổng, 3 bạn), huyện Quảng (trước tên là Khoáng có 2 tổng, 2 bạn), huyện Khang (2 tổng, 2 bạn), huyện Cát (2 tổng, 3 bạn), huyện Xôi (2 tổng, 2 bạn), huyện Mộc (nay thuộc Mường Mộc của Xiêng Khoảng hiện tại) (2 tổng, 2 bạn), huyện Liên (2 tổng, 2 bạn).[11]

Nhưng cũng theo Nguyễn Văn Siêu thì: vùng đất tỉnh Hủa Phăn ngày nay lại thuộc hai phủ Trấn Biên tỉnh Nghệ An và phủ Trấn Man của tỉnh Thanh Hóa thời Nguyễn.[12] Phần phía Nam của Hủa Phăn ngày nay là phủ Trấn Biên, nằm ở phần Tây Bắc tỉnh Nghệ An nhà Nguyễn, trước thuộc đất xứ Mang Hổ nước Ai Lao, gồm 4 huyện: Xa Hổ, Xầm Tộ (nay là Xamtay, hay còn gọi là Xầm Tơ tỉnh Hủa Phăn) vốn là Hổ Phân Xầm Tộ, Mang Lan (Mường Lan) vốn là Hổ Phân Mang Lan, Mang Soạn vốn là Hổ Phân Mang Soạn. Phần phía Bắc Hủa Phăn là phủ Trấn Man thuộc Thanh Hóa thời nhà Nguyễn, được chuyển từ phủ Trấn Biên tỉnh Nghệ An sang năm Minh Mạng thứ 9 (1829), gồm 3 huyện: Trình Cố (tức Xiềng Kho, hay Xiengkhor của Hủa Phăn, trước đó có tên là châu Trình Cụ, cuối thời Lê được nhập thêm châu Mã Nam (Nam sông Mã) từ xứ Hưng Hóa (Sơn La ngày nay) vào), Xầm Nưa hay Sam Neua (châu Xầm Nưa nhà Lê), Man Duy (tức châu Sơn Thôi nhà Lê hay mường Man Xôi đầu nhà Nguyễn, nay là Mường Xon tỉnh Hủa Phăn).[13]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hướng dẫn du lịch Xieng Khouang của Sở Du lịch tỉnh Xieng Khouang. (tiếng Anh)
  2. ^ Martin Stuart-Fox The Lao Kingdom of Lao Xang: Rise and Decline (Vương quốc Lan Xang: thịnh và suy), White Lotus Press, 1998. (tiếng Anh)
  3. ^ Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư
  4. ^ Lịch sử Lào của M.L. Manich, trang 102-105 bản gốc, 59-60 bản pdf.
  5. ^ Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, trang 102 bản điện tử của Viện Việt học.
  6. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, tập 1, Dư địa chí, Nghệ An, trang 80.
  7. ^ Đại Việt địa dư toàn biên, truyện nước Vạn Tượng, trang 336-342.
  8. ^ Mục từ Xiêng Khoảng trên Bách khoa toàn thư Việt Nam bản điện tử.
  9. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, tập 1, Dư địa chí, Nghệ An, trang 79.
  10. ^ Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, tập 1, Dư địa chí, Nghệ An, trang 80.
  11. ^ Đại Việt địa dư toàn biên của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, tỉnh Nghệ An, phủ Trấn Ninh, trang 235-236.
  12. ^ Đại Việt địa dư toàn biên của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, tỉnh Nghệ An, phủ Trấn Biên, trang 236-237.
  13. ^ Đại Việt địa dư toàn biên của Phương Đình Nguyễn Văn Siêu, tỉnh Thanh Hóa, phủ Trấn Man, trang 257.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]