Bộ Cá đối

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Cá đối
Mugil cephalus.jpg
Cá đối đầu dẹt (Mugil cephalus)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Lớp (class)

Actinopterygii

(không phân hạng) Actinopteri
Phân lớp (subclass) Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)

Teleostei

(không phân hạng) Osteoglossocephalai
(không phân hạng) Clupeocephala
(không phân hạng) Euteleosteomorpha
(không phân hạng) Neoteleostei
(không phân hạng) Eurypterygia
(không phân hạng) Ctenosquamata
(không phân hạng) Acanthomorphata
(không phân hạng) Euacanthomorphacea
(không phân hạng) Percomorphaceae
(không phân hạng) Carangimorpharia
(không phân hạng) Ovalentariae
(không phân hạng) Mugilomorphae
Bộ (ordo) Mugiliformes
Nelson, 1994[1]
Các họ

Bộ Cá đối (danh pháp khoa học: Mugiliformes) là một bộ cá vây tia. Hiện tại, bộ này chỉ chứa duy nhất một họhọ Cá đối (Mugilidae), với khoảng 66-80 loài cá đối trong 17 chi.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài cá đối phân bố chủ yếu trong các vùng duyên hải nhiệt đới và ôn đới. Chủ yếu sinh sống trong các vùng nước mặn và nước lợ, nông với độ sâu khoảng 20 m (66 ft) nhưng có một vài loài sống trong nước ngọt, ví dụ Liza abu chỉ sống trong vùng nước ngọt và cửa sông hay cá đối đầu dẹt (Mugil sephalus) có thể bơi sâu vào trong vùng nước ngọt trong đất liền.

Các loài cá đối có hai vây lưng ngắn: vây thứ nhất dạng gai (4 gai) và một vây lưng mềm gồm 1gai và các tia vây, cách nhau khá rộng. Các vây chậu (1 gai và 5 tia vây) ở phía dưới khoang bụng; 1 gai, 5 tia vây mềm. Vây ngực ở phần cao của cơ thể. Đuôi hơi chẻ. Giác quan hông nếu có thì không lộ rõ. Đầu rộng và dẹt ở phía trên. Miệng kích thước trung bình. Không răng hoặc có các răng nhỏ. Các lược mang dài. Dạ dày khỏe; ruột rất dài. Đốt sống 24-26. Chiều dài tối đa khoảng 90 cm (35 inch), nhưng thông thường chỉ cỡ 20 cm (8 inch). Mắt có thể được che phủ một phần bằng một lớp mỡ. Màu lưng là lục xám hay lam, hông trắng, bụng hơi vàng. Vảy lớn hình xiclôit. Bơi thành bầy. Thức ăn chủ yếu là các dạng tảo và tảo cát mịn, các mảnh vụn của trầm tích đáy. Đẻ trứng vào cuối mùa thu, đầu mùa đông. Là các loài cá thực phẩm quan trọng.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Mugiliformes có thể được coi là bộ tách biệt như đề cập trong bài hoặc là một phân bộ của bộ Cá vược (Perciformes), và trong phần lớn lịch sử phân loại của nó thì nói chung người ta đặt nó gần với họ Atherinidae/bộ Atheriniformes. Chúng nói chung được coi là nhóm cơ sở của nhánh Acanthopterygii hoặc Percomorpha. Sự đồng thuận duy nhất giữa các nhà phân loại là cho rằng bộ này có quan hệ gần gũi với các bộ/họ như Atheriniformes, Gasterosteiformes, SynbranchiformesElassomatidae trong một sự đa phân chưa được giải quyết.

Những hóa thạch cá đối đầu tiên có trong thế Oligocen (33,9-23 triệu năm trước). Bộ có quan hệ chị-em là bộ Cá suốt (Atheriniformes)

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nelson J. S. 1994. Fishes of the world. John Wiley and Sons, Inc. New York. Ấn bản lần thứ 3, 600 trang, ISBN 0-471-54713-1.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]