Bộ Cá nhói

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Cá nhói
Exvol u0.gif
Exocoetus volitans
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class)

Actinopterygii

(không phân hạng) Actinopteri
Phân lớp (subclass) Neopterygii
Phân thứ lớp (infraclass)

Teleostei

(không phân hạng) Osteoglossocephalai
(không phân hạng) Clupeocephala
(không phân hạng) Euteleosteomorpha
(không phân hạng) Neoteleostei
(không phân hạng) Eurypterygia
(không phân hạng) Ctenosquamata
(không phân hạng) Acanthomorphata
(không phân hạng) Euacanthomorphacea
(không phân hạng) Percomorphaceae
(không phân hạng) Ovalentaria
(không phân hạng) Atherinomorphae
Bộ (ordo) Beloniformes
Các họ

Bộ Cá nhói, bộ Cá nhoái, bộ Cá nhái hay bộ Cá kìm (danh pháp khoa học: Beloniformes) là một bộ chứa 6 họ cá vây tia với khoảng 275 loài cá trong 34 chi, sống trong môi trường nước ngọt và nước mặn[1], bao gồm:

Ngoại trừ các loài trong họ Adrianichthyidae (cá sóc), các loài còn lại có hình dáng thuôn, kích thước trung bình, sống gần mặt nước, với nguồn thức ăn là tảo, sinh vật phù du hay các loài động vật nhỏ hơn khác, kể cả cá. Phần lớn các loài là cá biển, mặc dù một số loài cá trong họ Cá nhói và họ Cá kìm sinh sống trong môi trường nước lợ và nước ngọt[2].

Bộ này đôi khi được chia ra thành 2 phân bộ, gọi là AdrianichthyoideiBelonoidei. Phân bộ Adrianichthyoidei chỉ chứa 1 họ là Adrianichthyidae. Nguyên thủy, họ Adrianichthyidae là một phần của bộ Cyprinidontiformes (bộ Cá sóc) và được cho là có quan hệ họ hàng gần với nhiều loài cá killi, nhưng mối quan hệ gần với các dạng cá nhói lại được chỉ ra bằng nhiều đặc trưng khác nhau, như sự thiếu vắng đoạn chằng gần của vòng cung mang, làm cho hàm trên bị cố định hay không thể kéo dài ra được. Phân bộ Belonoidei cũng có thể phân chia tiếp thành 2 siêu họ, gọi là ScomberesocoideaExocoetoidea. Siêu họ Scomberesocoidea chứa 2 họ là Belonidae và Scomberesocidae, trong khi Exocoetoidea chứa 2 họ là Exocoetidae, Hemiramphidae[3].

Tuy nhiên, một số chứng cứ mới gần đây cho thấy các dạng cá chuồn bị xếp lồng vào bên trong phạm vi các dạng cá kìm, còn các dạng cá nhói và cá thu đao bị xếp lồng vào bên trong phạm vi phân họ Zenarchopterinae của họ cá kìm (Hemiramphidae), hiện được công nhận như là một họ riêng của chính chúng là Zenarchopteridae (cá lìm kìm). Các dạng cá thu đao cũng xếp lồng trong phạm vi họ cá nhói (Belonidae)[4].

Các dạng cá trong bộ này thể hiện một loạt các hình thái quai hàm đáng quan tâm. Điều kiện cơ sở trong bộ, ngoại trừ các dạng cá sóc của họ Adrianichthyidae, là hàm dưới thuôn dài ở cá non và cá trưởng thành, như thể hiện ở các dạng cá kìm. Ở cá nhói và cá thu đao, cả hai hàm đều thuôn dài ở cá trưởng thành; các dạng cá non của phần lớn các loài đều phát triển qua "giai đoạn hàm dưới dài hơn và trễ xuống" trước khi có cả 2 hàm thuôn dài. Hàm dưới thuôn dài bị mất ở cá trưởng thành và bị mất ở phần lớn cá non của các dạng cá chuồn và một vài chi cá kìm[4].

Phát sinh chủng loài[sửa | sửa mã nguồn]

Cây phát sinh chủng loài vẽ theo Lovejoy và ctv (2004)[4].

 Beloniformes 

 Adrianichthyidae


 Belonoidei 


 Exocoetidae



  Hemiramphidae (Euleptorhamphus, Hemiramphus, Oxyporhamphus)





  Hemiramphidae (Arrhamphus, Hyporhamphus)




 Zenarchopteridae



 Belonidae, gồm cả Scomberesocidae






Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Froese R. và D. Pauly. (chủ biên). “Order Summary for Beloniformes”. FishBase. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2013. 
  2. ^ Helfman G., Collette B., Facey D.: The Diversity of Fishes, Blackwell Publishing, trang 274-276, 1997, ISBN 0-86542-256-7
  3. ^ Nelson, Joseph S. (2006). Fishes of the World. John Wiley & Sons, Inc. ISBN 0-471-25031-7. 
  4. ^ a ă â Lovejoy, N; Iranpour M.; Collette B. (2004). “Phylogeny and Jaw Ontogeny of Beloniform Fishes”. Integrative and Comparative Biology 44: 366–377. doi:10.1093/icb/44.5.366.