Bộ Quốc phòng Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Bộ Quốc phòng (Việt Nam))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Quốc phòng Việt Nam
Flag of Viet Nam Peoples Army.svg
Hoạt động từ ngày 27 tháng 8 năm 1945

đến nay được &0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000243.000000243 ngày

Quốc gia  Việt Nam
Phục vụ Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Phân loại Bộ trực thuộc Chính phủ
Chức năng Quản lý và điều hành Quân đội Nhân dân Việt Nam. Thực hiện nhiệm vụ chiến đấu chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc và Nhân dân, phòng thủ Quốc gia.
Quy mô theo Bảng xếp hạng
của GlobalFirepower
  • Lực lượng chính quy:
    412.000 người
  • Lực lượng dự bị động viên:
    5.040.000 người
  • Lực lượng SSCĐ toàn quốc:
    50.645.430 người
  • Sĩ quan cấp tướng theo biên chế: Khoàng 700 người
Bộ phận của Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Chính phủ Việt Nam
Bộ chỉ huy số 7, đường Nguyễn Tri Phương, Hà Nội
Đặt tên theo thứ tự thời gian:

1945: Bộ Quốc phòng
1946: Bộ Quốc phòng - Tổng Chỉ huy
1949: Bộ Quốc phòng - Tổng Tư lệnh
1976: Bộ Quốc phòng

Khẩu hiệu Quyết thắng
Hành khúc Tiến bước dưới quân kỳ
Lễ kỷ niệm 2 tháng 9, 1945
Các tư lệnh
Bộ trưởng Vietnam People's Army General Left.jpg Phùng Quang Thanh
Thứ trưởng

Bộ Quốc phòng Việt Nam là một cơ quan trực thuộc Chính phủ, tham mưu cho ĐảngNhà nước về đường lối, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng bảo vệ Tổ quốc; quản lý nhà nước về lĩnh vực quốc phòng trong phạm vi cả nước; tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản lý và chỉ huy Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ; quản lý các dịch vụ công theo quy định của pháp luật. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng vừa là người chỉ đạo thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng theo quy định của pháp luật, vừa chịu trách nhiệm tổ chức, xây dựng, quản lý và là người chỉ huy cao nhất của Quân đội nhân dânDân quân tự vệ.[1]


Quốc phòng Việt Nam
Flag of Viet Nam Peoples Army.svg

Quốc phòng và Quân đội
Việt Nam


Các nước khác

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi nhận được tin Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh ngày 15 tháng 8 năm 1945, các lãnh đạo Việt Minh đã tổ chức Quốc dân Đại hội tại Tân Trào, Tuyên Quang ngày 16 tháng 8, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, lãnh đạo thực hiện Tổng khởi nghĩa. Sau khi giành được chính quyền, ngày 25 tháng 8 năm 1945, Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam được cải tổ thành Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong tuyên cáo ngày 25 tháng 8, thành phần chính phủ lâm thời có ông Chu Văn Tấn giữ vai trò Bộ trưởng Bộ Quốc phòng[2]. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt nam Dân chủ Cộng hòa và ra mắt toàn bộ thành viên chính phủ lâm thời trước quốc dân, trong đó có cả tân bộ trưởng quốc phòng Chu Văn Tấn.[3]

Tuy nhiên, trên thực tế, các cơ quan nội các vẫn chưa kịp thành lập, kể cả Bộ Quốc phòng. Các lực lượng vũ trang của người Việt đều do các đảng phái chính trị lãnh đạo riêng rẽ hoặc tổ chức tự phát. Trong đó, lực lượng vũ trang có thực lực nhất là Việt Nam Giải phóng quân, do Mặt trận Việt Minh lãnh đạo. Ngày 7 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Chính phủ Lâm thời Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Bộ Tham mưu nhằm chỉ huy, điều hành lực lượng vũ trang trong cả nước:

"Chính phủ lâm thời đã quyết định tổ chức Bộ Quốc phòng nay Đoàn thể lập Bộ Tham mưu để chỉ huy, điều hành lực lượng vũ trang trong cả nước. Bộ Tham mưu là cơ quan quân sự cơ mật của đoàn thể, là cơ quan quan trọng của quân đội, có nhiệm vụ: tổ chức, huấn luyện quân đội cho giỏi; tổ chức nắm dịch, nắm ta rõ ràng, bày mưu kế khôn khéo; tổ chức chỉ huy thông suốt, bí mật nhanh chóng, kịp thời, chính xác để đánh thắng mọi kẻ thù, bảo vệ cách mạng".

Hồ Chí Minh.[4]

Cùng với chỉ thị này, ông Hoàng Văn Thái được chỉ định làm Tham mưu trưởng và được giao nhiệm vụ tổ chức Bộ Tham mưu. Một nhóm hạt nhân nòng cốt để xây dựng Bộ Tham mưu gồm 8 người là Hoàng Văn Thái, Hoàng Đạo Thúy, Hoàng Minh Đạo, Mai Hữu Thao, Nguyễn Văn Trang, Vũ Văn Thềm, Nghiêm Xuân Hoà, Đỗ Văn Sáng; hình thành cơ cấu tổ chức cơ quan tham mưu bước đầu bao gồm: Phòng Tác chiến - Đồ bản do Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng, trực tiếp làm Trưởng phòng; Phòng Tình báo do Hoàng Minh Đạo làm Trưởng phòng; Phòng Quân lực do Trần Văn Lư làm Trưởng phòng; Phòng Thông tin liên lạc do Hoàng Đạo Thúy làm Trưởng phòng và Văn phòng quản lý hành chính do Nguyễn Văn Trang phụ trách.[5]

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ. Ngày 15 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh phân chia toàn quốc thành 9 chiến khu[6]. Tuy nhiên, do điều kiện chiến tranh, liên lạc khó khăn do chiến sự đã lan đến địa bàn khu 6, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ mới bổ nhiệm các nhân sự của các chiến khu 1, 2, 3, 4. Các chiến khu 5, 6 đặt dưới quyền chỉ đạo của Ủy ban kháng chiến hành chính Miền Nam Việt Nam; các chiến khu 7, 8, 9 được đặt dưới quyền chỉ đạo trực tiếp của Xứ ủy Nam Bộ và Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ. Cùng ngày, thực dân Pháp gây hấn ở Nam Bộ, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần hai.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập. Luật sư Phan Anh giữ cương vị Bộ trưởng Quốc phòng[7]. Ngày 2 tháng 3 năm 1946, Ủy ban Kháng chiến toàn quốc, còn gọi là Toàn quốc Kháng chiến Ủy viên Hội ra đời. Chủ tịch: Võ Nguyên Giáp, Phó Chủ tịch: Vũ Hồng Khanh.

Ngày 25 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 34 về tổ chức Bộ Quốc phòng. Theo đó, Bộ Quốc phòng có Văn phòng và 10 cục chuyên môn: Chế tạo quân nhu Cục, Chế tạo quân giới Cục, Chính trị Cục, Tình báo Cục, Quân chính Cục, Quân huấn Cục, Công chính giao thông Cục, Quân pháp Cục, Quân nhu Cục, Quân y Cục.[8]. Cũng trong ngày hôm đó, một số nhân sự lãnh đạo các cơ quan chuyên môn của Bộ Quốc phòng cũng được bổ nhiệm.[9] Ngày 6 tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 60 đổi tên Ủy ban kháng chiến toàn quốc thành Quân sự Ủy viên hội, theo đó Quân sự Uỷ viên hội một cơ quan tối cao quân sự đặt thẳng dưới quyền điều khiển của Chính phủ và nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc, đứng đầu là Chủ tịch và Phó Chủ tịch ngang hàng với Bộ trưởng và Thứ trưởng các Bộ và quy định tổ chức của Quân sự Ủy viên hội gồm: Cục Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Tổng vụ, Cục Tổng Chỉ huy, Uỷ ban Liên lạc và kiểm soát quân sự Trung ương Việt - Pháp.[10]

Ngày 29 tháng 6 năm 1946, thành lập Đoàn Pháo binh Thủ đô (sau là Cục Pháo Binh rồi Binh chủng Pháo binh).[11] Ngày 7 tháng 7 năm 1946, thành lập Trường Võ bị Đà Lạt sau này là Học viện Lục quân (1981).

Từ ngày 28 tháng 10 đến ngày 9 tháng 11 năm 1946, Quốc hội khóa I, kỳ họp thứ 2 đã quyết định sát nhập Bộ Quốc phòng hợp với Quân sự Ủy viên hội thành Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy.[12] Ngày 30 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 230 Ủy quyền cho Võ Nguyên Giáp đứng đầu Bộ Tổng Chỉ huy kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.[13]

Ngày 5 tháng 11 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị công việc khẩn cấp cần làm. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: "Công việc khẩn cấp là kháng chiến và kiến quốc. Người dự đoán cuộc kháng chiến sẽ gay go, gian khổ, nhưng chúng ta kiên quyết chống chọi với các trận khủng bố của địch, thì ta sẽ thắng."[14]. Trong tháng 11 năm 1946, cả nước chia thành 12 khu hành chính và quân sự. Mỗi khu có Uỷ ban kháng chiến khu phụ trách hành chính, Khu trưởng phụ trách quân đội. Ngày 10 tháng 12 năm 1946, thành lập Khu 7, sau là Quân khu 7 (1975).[15] Cùng ngày, thành lập Khu 9, sau là Quân khu 9 (1976).[16]

Cuối tháng 11, đầu tháng 12 năm 1946, trước tình hình căng thẳng tại Mặt trận Hà Nội, Các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Mặt trận và Bộ Tổng Chỉ huy di chuyển lên An toàn khu Việt Bắc giáp giới với Trung Quốc để lãnh đạo, tổ chức kháng chiến lâu dài. Các binh công xưởng, xí nghiệp, nhà máy, gần 63 nghìn nhân dân miền xuôi và hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu được vận chuyển, sơ tán lên Việt Bắc để vừa sản xuất vừa tiếp tục chiến đấu.

Ngày 18 tháng 12 năm 1946, thực dân Pháp gửi tối hậu thư cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đòi tước khí giới của lực lượng tự vệ và giành kiểm soát Thủ đô Hà Nội. Ngay trong ngày, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng tại Hà Đông, hạ quyết tâm phát động toàn quốc kháng chiến. Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy chủ trưởng mở cuộc tiến công vào các vị trí quân Pháp ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Vinh, Huế, Đà Nẵng.... Ban Thường vụ Trung ương Đảng có dự đoán chắc chắn trong 24 giờ thực dân Pháp sẽ nổ súng và chỉ thị cho toàn quân và dân cả nước sẵn sàng chiến đấu. Đến chiều ngày 19 tháng 12 năm 1946, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho bộ đội chủ lực và các lực lượng vũ trang:"Giờ chiến đấu đã đến". Cơ quan cơ yếu mật mã Bộ Tổng tham mưu truyền đi bản mật lệnh: "Chuyến hàng sẽ đến lúc 18 giờ ngày 21-12. Hàng mang mã hiệu A cộng hai, B trừ hai. Chú ý theo dõi đón hàng đúng giờ". Theo đó, quy ước "chuyến hàng sẽ đến" có nghĩa là tổng giao chiến bắt đầu. A là giờ cộng thêm hai, B là ngày trừ đi hai. Có nghĩa là: "Cuộc tổng giao chiến bắt đầu lúc 20 giờ ngày 19 tháng 12".[17]

Ngày 4 tháng 2 năm 1947, thành lập Cục Quân giới (nay phát triển thành Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng, Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quân sự, Tổng cục Kỹ thuật, Bộ Quốc phòng Việt Nam). Cục trưởng: Trần Đại Nghĩa

Đầu tháng 3 năm 1947, Chính phủ quyết định đổi tên Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia thành Bộ Tổng chỉ huy quân đội quốc gia và dân quân tự vệ, và thành lập các ban chỉ huy tỉnh đội, huyện đội, xã đội thuộc ủy ban kháng chiến các cấp.[14] Ngày 20 tháng 3 năm 1947, thành lập Cục Quân báo, Bộ Tổng Tham mưu, sau là Tổng cục Tình báo (1995).[14]

Ngày 1 tháng 5 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 47 quy định tổ chức của Bộ Tổng Chỉ huy gồm các cơ quan: Bộ Tổng Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Tình báo và Văn phòng.[18]

Tháng 7 năm 1947, Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy tách ra thành Bộ Quốc phòngBộ Tổng Chỉ huy.[12] Ngày 30 tháng 9 năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 90 quy định mối quan hệ giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy. Theo đó, phương châm và kế hoạch về quân nhu, quân giới huấn luyện bộ đội, công binh, vô tuyến điện, hai bên cùng quyết định chung, Bộ Quốc phòng phụ trách thực hiện, Bộ Tổng chỉ huy phụ trách điều động sử dụng, trừ những trường hợp hai bên cùng sử dụng thì Tổng chỉ huy định, Quốc phòng y hiệp.[19] Đứng đầu Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia Việt Nam là Tổng Chỉ huy ngang hàng với Bộ trưởng về quyền hạn và danh vị và là thành viên trong Hội đồng Liên bộ.[20]

Ngày 25 tháng 1 năm 1948, Chính phủ ra Sắc lệnh số 120-SL thành lập các liên khu trong cả nước để tăng cường chỉ đạo chiến tranh. Theo Sắc lệnh này, Khu 1 và khu 12 hợp nhất thành Liên khu 1; Khu 2, 3, 11 hợp nhất thành Liên khu 3; Khu 10 và khu 14 hợp nhất thành Liên khu 10; Khu 4 đổi tên thành Liên khu 4; khu 7, 8, 9 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn hợp nhất thành Liên khu Nam Bộ.[14] Trong ngày 25 tháng 1 năm 1948, thành lập Cục Tổng Thanh tra.

Ngày 14 tháng 4 năm 1948, Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân tự vệ đổi tên thành Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam.[21]Tháng 10 năm 1948, hợp nhất Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam với Bộ Quốc phòng thành Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy.

Ngày 9 tháng 3 năm 1949, thành lập Ban Nghiên cứu Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu, sau là Ban Nghiên cứu Sân bay (năm 1955), Bộ Tư lệnh Phòng không (năm 1958), Cục Không quân thuộc Bộ Tổng Tham mưu (năm 1959), Quân chủng Phòng không-Không quân (năm 1963).[22]

Ngày 10 tháng 3 năm 1949, thành lập Trường Quân y sĩ Việt Nam, sau là Đại học Quân y (năm 1966), Học viện Quân y (năm 1981).[23]

Ngày 12 tháng 3 năm 1949, Chính phủ ra Sắc lệnh số 14-SL, đổi tên Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam thành Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam (hay còn gọi là Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh); các bộ chỉ huy Liên khu quân sự thành Bộ Tư lệnh Liên khu; Tổng chỉ huy gọi là Tổng Tư lệnh; Liên khu trưởng gọi là Tư lệnh Liên khu[24].

Ngày 18 tháng 6 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 50/SL về tổ chức Bộ Quốc phòng thì Bộ Quốc phòng có: Văn phòng; Các Nha: Nha Quân giới, Nha Quân nhu và Nha Quân dược; Các cơ quan: Bộ Tổng Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Dân quân, Cục Quân huấn, Cục Quân chính, Cục Quân pháp, Cục Tình báo, Cục Pháo binh, Cục Công binh, Cục Quân giới, Cục Quân nhu, Cục Quân y, Cục Thông tin liên lạc, Cục Vận tải. Đứng đầu các cục là Cục trưởng.[25]

Trong Kháng chiến chống Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 11 tháng 7 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 121 thành lập Tổng cục Chính trịTổng cục Cung cấp; quy định Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh gồm Bộ Tổng Tham mưu (gồm các Cục: Tác chiến, Quân báo, Dân quân, Quân huấn, Thông tin Liên lạc), Tổng cục Chính trị (gồm các Cục: Tổ chức, Tuyên huấn, Địch vận, Quân pháp, Nhà Xuất bản Vệ Quốc quân), Tổng cục Cung cấp (gồm các Cục: Quân lương, Quân y, Quân vụ, Quân giới, Quân trang, Vận tải), Đoàn Thanh traVăn phòng.[26]

Ngày 13 tháng 7 năm 1950, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam đã ra Thông tư số 47/TT-A giải thích về tổ chức mới của Bộ Tổng tư lệnh. Thông tư có đoạn viết:[27] "Để sự chỉ đạo chiến tranh được tập trung hơn nữa, để việc huy động mọi khả năng, mọi lực lượng cho tiền tuyến được nhanh chóng và chu đáo hơn nữa, tổ chức lại Bộ Tổng tư lệnh, thành lập Bộ Tổng tham mưu, hai Tổng cục, đoàn Thanh tra, Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh…’’.[27] Từ đây, bắt đầu có cấp Tổng cục bao gồm một số cục trong cơ quan Bộ. Thứ nhất là Bộ Tổng tham mưu gồm Văn phòng, Cục Tác chiến, Cục Quân báo, Cục Thông tin liên lạc, Cục Dân quân, Cục Quân huấn. Thứ hai là Tổng cục Chính trị gồm Văn phòng, Cục Tổ chức, Cục Tuyên huấn, Cục Quân pháp, Cục Địch vận, Nhà xuất bản Vệ quốc quân.Thứ ba là Tổng cục Cung cấp gồm Văn phòng, Cục Quân lương, Cục Quân y, Cục Quân vụ, Cục Vận tải, Cục Quân giới, Cục Quân trang, Phòng Quân khí.Thứ tư là Đoàn Thanh tra. Thứ năm là Văn phòng Bộ Tổng tư lệnh. Ngoài ra còn có Cục Pháo binh, Cục Công binh và quân hiệu (các trường quân sự) được Tổng tư lệnh uỷ quyền Tổng Tham mưu trưởng chỉ đạo.[27]

Ngày 1 tháng 4 năm 1951, thành lập Quân y viện 108, sau là Viện Quân y 108 (1980), Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (1995)[28]. Ngày 15 tháng 6 năm 1951, thành lập Trường Sĩ quan Hậu cần, sau sát nhấp vào Học viện Hậu cần (1974).[29] Ngày 25 tháng 10 năm 1951, thành lập Trường Chính trị Trung cấp, mãi sau này là Học viện Chính trị (2008).[30]

Đầu năm 1955, cơ quan Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh được chấn chỉnh tổ chức và được gọi là cơ quan Tổng quân uỷ-Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh. Trong văn bản "Mấy điều giải thích về chấn chỉnh tổ chức cơ quan Tổng quân uỷ" đề ngày 1 tháng 4 năm 1955, có đoạn viết: "Bộ máy chỉ đạo quân sự của Đảng gọi là Tổng quân uỷ, về chính quyền vẫn gọi là Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh. Những cơ quan chính của Tổng quân uỷ vẫn có Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Cung cấp. Ngoài ra còn có một Văn phòng đồng thời là Văn phòng Tổng quân uỷ và Văn phòng Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh…’’.[27]

Văn bản đó còn nói đến một số điểm nữa như đổi tên Tổng cục Cung cấp thành Tổng cục Hậu cần, tách và thành lập thêm một số cơ quan trực thuộc Bộ hoặc trực thuộc các Tổng cục và hình thành các cơ quan:[27] Một là Văn phòng Tổng quân uỷ-Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh. Hai là Bộ Tổng tham mưu: Văn phòng, Cục Tác chiến, Cục Quân báo, Cục Thông tin liên lạc, Cục Quân lực, Cục Quân huấn, Cục Quản lý hành chính kinh tế, Phòng Giao thông quân sự, Phòng Cơ yếu, Phòng Đồ bản. Ba là Tổng cục Chính trị: Văn phòng, Cục Tổ chức, Cục Tuyên huấn, Cục Địch vận, Cục Bảo vệ, Cục Chính trị trực thuộc, Báo Quân đội nhân dân, Thể công, Văn công, Phòng Tài vụ. Bốn là Tổng cục Hậu cần: Bộ Tham mưu, Cục Chính trị, Cục Quân nhu, Cục Quân y, Cục Quản lý xe hơi máy kéo, Cục Quân giới, Phòng Quản lý doanh trại, Phòng Xăng dầu, Phòng Sản xuất trang dụng, các đoàn xe hơi, các đoàn thuyền, canô, báo Hậu cần, trường Hậu cần, Phòng Liên lạc biên giới. Năm là Các đơn vị trực thuộc khác: Cục Pháo binh, Cục Công binh, Cục Phòng không, Cục Hàng không, Cục Phòng thủ bờ biển, Cục Dân quân, Cục Tài vụ, Cục Quân khí, cơ quan quân pháp, trường Lục quân, trường Quân chính trung cấp, Toà soạn Quân chính tập san.

Ngày 22 tháng 2 năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 221 về việc sát nhập Khu Tả Ngạn với Liên khu 3 thành Liên khu 3.[31] Ngày 7 tháng 5 năm 1955, thành lập Cục Phòng thủ bờ biển, sau là Cục Hải quân (1959), Quân chủng Hải quân (1963).[32]

Ngày 24 tháng 9 năm 1955, Tổng quân uỷ đã ra Nghị quyết số 10/VP-TQU về cải tiến cách làm việc, trong đó có đoạn xác định vị trí, nhiệm vụ của các cơ quan giúp việc: "Đứng về phía chỉ đạo của Đảng về quân sự mà nói thì cơ quan thống nhất chỉ đạo toàn quân là Tổng quân uỷ, các cơ quan giúp việc là Bộ Tổng tham mưu, Tổng cục Chính trị, Tổng cục Hậu cần. Tổng quân uỷ thông qua các cơ quan Tham mưu, Chính trị, Hậu cần mà thực hiện sự lãnh đạo của mình; ngược lại sự chỉ đạo công tác của các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần đối với đơn vị đều phải tập trung thống nhất vào chủ trương và kế hoạch chung của Tổng quân uỷ mà cơ quan giúp việc hàng ngày cho Tổng quân uỷ là Văn phòng Tổng quân uỷ…’’.[27]

Trong Kháng chiến chống Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 10 tháng 4 năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 60/SL về việc thành lập Tổng cục Quân huấn trực thuộc Bộ Quốc phòng.[33] Tổng cục Quân huấn có nhiệm vụ giúp Bộ Quốc phòng Tổng tư lệnh chỉ đạo công tác huấn luyện quân sự đối với cán bộ và chiến sĩ các binh chủng trong toàn quân, chỉ đạo công tác các nhà trường của quân đội và chỉ đạo công tác huấn luyện các lực lượng hậu bị.[33]

Ngày 10 tháng 4 năm 1958, thành lập Cục Nghiên cứu điều lệnh và Khoa học Quân sự trực thuộc Tổng cục Quân huấn, sau là Cục Khoa học Công nghệ và Môi trường, Cục Khoa học Quân sự (2014).[34] Cục Khoa học quân sự Bộ Quốc phòng có nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu giúp Quân ủy Trung ương, Bộ QQuoocsp hòng lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác Khoa học-Công nghệ-Môi trường trong quân đội và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực này trong toàn quân. [34]

Từ năm 1955, Tổng Quân ủy đã giao cho Trường Sĩ quan Lục quân Việt Nam tổ chức tập huấn những nội dung cơ bản về hóa học, nguyên tử cho đội ngũ giáo viên của trường. Năm 1956, Bộ Quốc phòng đã thành lập Tổ nghiên cứu tác chiến dưới điều kiện vũ khí nguyên tử, hóa học ở Cục Quân huấn. Đây là tổ chức tiền thân, cơ quan chỉ đạo phòng hóa của Quân đội nhân dân Việt Nam.[35] Ngày 17 tháng 3 năm 1958, Bộ Tổng Tham mưu ban hành Công văn số 173/BTTM, tổ chức các cơ quan trực thuộc Tổng cục Quân huấn trong đó có Phòng Hóa học - Nguyên tử nằm trong Cục Huấn luyện chiến đấu. Phòng Hóa học - Nguyên tử là cơ quan nghiệp vụ làm tham mưu cho Bộ, chỉ đạo huấn luyện Phòng Hóa học - Nguyên tử trong toàn quân; đồng thời phối hợp với các cơ quan, tổ chức, xây dựng một số cơ quan, đơn vị hóa học theo đề án đã được xác định.[35] Ngày 19 tháng 4 năm 1958, Bộ Tổng Tham mưu ra Quyết định số 214/BTM, giao nhiệm vụ cho Trường Sĩ quan Lục quân tổ chức một tiểu đoàn hóa học trực thuộc lấy phiên hiệu là Tiểu đoàn 6. Đây là tiểu đoàn hóa học đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam, có nhiệm vụ đào tạo hạ sỹ quan hóa học cho toàn quân, đảm nhiệm phòng hóa học hạt nhân và chiến đấu bằng vũ khí lửa; đồng thời, cùng ngày Bộ Quốc phòng đã quyết định thành lập 2 đại đội hóa học trực thuộc Sư đoàn Bộ binh 308 và Sư đoàn Bộ binh 320.[35] Ngày 19 tháng 4 năm 1958, đánh dấu sự phát triển đầy đủ, yếu tố cần thiết cho sự ra đời Binh chủng Hóa học Quân đội nhân dân Việt Nam và được, Bộ Tổng Tham mưu quyết định lấy làm ngày truyền thống của Bộ đội Hóa học (1973). Ngày 9 tháng 5 năm 1966, theo Quyết định số 34/QĐ-QP, Phòng Hóa học - Nguyên tử được phát triển thành Cục Hóa học thuộc Bộ Tổng Tham mưu.[35] Ngày 17 tháng 7 năm 1976, Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng đã ký Quyết định số 224/QĐ-QP phát triển Cục Hóa học thành Binh chủng Hóa học (năm 1976).[35]

Thực hiện Nghị quyết 58/NQ-TW của Bộ Chính trị, ngày 3 tháng 3 tháng 1959, Thủ tướng ra Nghị định 100/TTg thành lập lực Lượng Công an nhân dân vũ trang.[36] Ngày 19 tháng 11 năm 1958, thành lập Lực lượng Cảnh vệ gồm Cảnh vệ Biên phòng và Cảnh vệ Nội địa.[36] Ngày 10 tháng 10 năm 1979, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 22/NQ-TW, chuyển giao nhiệm vụ và Lực lượng Công an nhân dân vũ trang từ Bộ Nội vụ sang Bộ Quốc phòng.[36] Ngày 31 tháng 5 năm 1988, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra chỉ thị số 41/CT-TW về việc chuyển giao Lực lượng Bộ đội Biên phòng từ Bộ Quốc phòng sang Bộ Nội vụ.[36] Ngày 16 tháng 11 năm 1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 754/TTg chuyển Bộ đội biên phòng về trực thuộc Bộ Quốc phòng[36][37]

Ngày 19 tháng 5 năm 1959, thành lập Đoàn 559, sau là Bộ Tư lệnh Đoàn 559 (1965), Bộ Tư lệnh Trường Sơn(1970), Binh đoàn 12 (1977)[38]

Ngày 12 tháng 10 năm 1960, thành lập Cục Nghiên cứu Kỹ thuật (Viện Kỹ thuật Quân sự), nay là Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự.

Ngày 27 tháng 8 năm 1961, thành lập Trường Quân chính sơ cấp Quân Giải phóng miền Nam.[39]  Ngày 10 tháng 10 năm 1975, Bộ Quốc phòng ký quyết định thành lập Trường Sĩ quan Lục quân 2 trên cơ sở Trường Lục quân tổng hợp H28, trực thuộc Bộ Quốc phòng, sau là Trường Đại học Nguyễn Huệ (2010).[39]

Trong bối cảnh đế quốc Mỹ ra sức phá hoại Hiệp định Genève, trực tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam, thiết lập thể chế chính trị thân Mỹ, áp đặt chính sách thực dân kiểu mới, xây dựng bộ máy bạo lực phản cách mạng và sử dụng bộ máy ấy để đàn áp khốc liệt phong trào cách mạng miền Nam, Đảng ta không còn con đường nào khác phải sử dụng bạo lực cách mạng để trấn áp kẻ thù, thực hiện hoài bão lớn nhất của toàn dân tộc là hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Từ phong trào cách mạng của quần chúng, hình thức đấu tranh vũ trang tái xuất hiện và cùng với nó là sự ra đời của các lực lượng vũ trang nhân dân ở miền Nam. Nhu cầu cần có một bộ chỉ huy quân sự thống nhất và tại chỗ để kịp thời chỉ đạo chỉ huy toàn thể các lực lượng vũ trang cách mạng tại chiến trường miền Nam đặt ra một cách khẩn bách. Năm 1961, để chỉ huy trực tiếp các lực lượng vũ trang cách mạng tại chiến trường Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Nam Tây Nguyên; Bộ Chính trị quyết định thành lập Bộ Tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam (gọi là Bộ Chỉ huy Miền). Sự ra đời của Bộ Chỉ huy Miền là một tất yếu khách quan, đáp ứng kịp thời yêu cầu của cách mạng miền Nam trong thời điểm chuyển sang chiến tranh cách mạng lúc bấy giờ. Đó là vấn đề xây dựng lực lượng vũ trang và tiến hành đấu tranh vũ trang chống xâm lược.[40]

Bộ Chỉ huy Miền là một cấp chỉ huy lớn của quân đội, cơ quan chỉ huy cao nhất các lực lượng vũ trang nhân dân ở B2. Bộ Chỉ huy Miền đặt dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, trực tiếp là Trung ương Cục và sự chỉ đạo chỉ huy của Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh”. Kể từ khi thành lập cho đến lúc kết thúc nhiệm vụ, Bộ Chỉ huy Miền do các đồng chí sau đây làm Tư lệnh: Phạm Thái Bường (1961), Trần Nam Trung (1961 - 1962), Trần Văn Quang (1962 - 1964), Trần Văn Trà (1964 - 1967, 1973 - 1976), Hoàng Văn Thái (1967 - 1973); và Chính ủy là các đồng chí: Nguyễn Văn Linh (1961 - 1964), Nguyễn Chí Thanh (1964 - 1967), Phạm Hùng (1967 - 1976).[40]

Ngày 28 tháng 5 năm 1964, Bộ Quốc phòng đã ra Quyết định số 62/QĐ-QP thành lập Cục Liên lạc Đối ngoại (Bộ Quốc phòng) để giúp Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng quản lý, chỉ đạo các hoạt động đối ngoại,[41] sau đến ngày 4 tháng 9 năm 1989, đổi tên thành Cục Đối ngoại[41]

Ngày 22 tháng 6 năm 1965, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 100/QĐ-QP thành lập Trung đoàn Xe tăng 203 và ra Quyết định số 101/QĐ-QP thành lập Bộ Tư lệnh Tăng thiết giáp.[42] Nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh Tăng thiết giáp là lãnh đạo, chỉ huy, xây dựng và quản lý các đơn vị xe tăng, thiết giáp dự bị của Bộ và làm tham mưu cho Bộ về Binh chủng TTG.[42] Sự ra đời của Binh chủng TTG đã đánh dấu bước phát triển mới của Bộ đội TTG và sự lớn mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam, thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, chủ trương đúng đắn của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh nhằm tăng cường sức mạnh của quân đội để có đủ khả năng làm tròn sứ mệnh lịch sử vẻ vang bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, giải phóng miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế. Ngày 5 tháng 10 năm 1965 thành lập Binh chủng Tăng Thiết giáp.[42]

Ngày 8 tháng 8 năm 1966, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 146/CP thành lập Phân hiệu II Đại học Bách Khoa.[43] Ngày 28 tháng 10 năm 1966, công bố quyết định thành lập Phân Hiệu II Đại học Bách Khoa đồng thời khai giảng khóa đào tạo 1.[43] Ngày 18 tháng 6 năm 1968, Thủ tướng Chính phủ quyết định đổi tên "Phân hiệu II Đại học Bách khoa" thành trường Đại học Kỹ thuật Quân sự.[43] Ngày 15 tháng 12 năm 1981, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Học viện Kỹ thuật Quân sự trên cơ sở trường Đại học Kỹ thuật Quân sự.[43] Ngày 6 tháng 5 năm 1991, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn trên cơ sở Học viện Kỹ thuật Quân sự với 2 nhiệm vụ đào tạo quân sự và dân sự[43]

Ngày 17 tháng 3 năm 1967, thành lập Binh chủng Đặc công.[44]

Ngày 3 tháng 7 năm 1971, thành lập Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng[45]

Sau khi Hiệp định Pa-ri 1973 được ký kết, tình thế mới đặt ra vấn đề xây dựng các quân đoàn binh chủng hợp thành có sức cơ động cao, sức đột kích lớn, làm lực lượng quyết định trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược. Chấp hành Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ngày 24 tháng 10 năm 1973, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký quyết định số 142/QĐ-QP về việc thành lập Quân đoàn 1. Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng được cử kiêm Tư lệnh Quân đoàn; Thiếu tướng Lê Quang Hòa, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị được cử kiêm Chính ủy Quân đoàn.[46]

Ngày 17 tháng 5 năm 1974, Quân đoàn 2 được thành lập tại Ba Nang - Ba Lòng - Quảng Trị.[47] Sự ra đời của Quân đoàn 2 thể hiện sinh động quy luật về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhiệm vụ chủ yếu của Quân đoàn là tham gia tổ chức các chiến dịch quy mô bằng sức mạnh hiệp đồng binh chủng, thực hiện những đòn tiêu diệt lớn lực lượng địch, phối hợp với các lực lượng tại chỗ và phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân giải phóng hoàn toàn miền Nam.[47] Để thực hiện nhiệm vụ này, yêu cầu đặt ra đối với Quân đoàn là phải xây dựng sức mạnh chiến đấu tổng hợp, sức đột kích mạnh, tính cơ động cao, thành thạo tác chiến tập trung hiệp đồng quân, binh chủng.[47]

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về tổ chức lực lượng, quân đội ta còn được trang bị một khối lượng lớn vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại. Các quân đoàn chủ lực cũng được thành lập. Công tác bảo đảm trang bị, bảo đảm kỹ thuật, quản lý kỹ thuật và huấn luyện kỹ thuật để cán bộ, chiến sĩ làm chủ vũ khí trang bị kỹ thuật trong khai thác sử dụng đặt ra cho các cấp phải khẩn trương thực hiện. Lượng vũ khí trang bị kỹ thuật rất lớn được trang bị cho các đơn vị đòi hỏi phải tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo tiến hành bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa, cất giữ an toàn phục vụ cho chiến đấu. Trên tình hình thực tế đó cần phải có cơ quan quản lý, chỉ huy, chỉ đạo cấp chiến lược trực thuộc Bộ đảm trách công tác kỹ thuật quân sự để tham mưu đề xuất với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng về công tác kỹ thuật. Vì vậy, Ngày 10 tháng 9 năm 1974, Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định số 211/CP về việc thành lập Tổng cục Kỹ thuật trực thuộc Bộ Quốc phòng.[48]

Ngày 20 tháng 3 năm 1975, thành lập Cục Vật tư trực thuộc Bộ Tổng Tham mưu, sau là Cục Kế hoạch và Đầu tư (1998)[49]

Ngay sau khi Tây Nguyên được giải phóng, ngày 26 tháng 3 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký quyết định số 54/QĐ-QĐ thành lập Quân đoàn 3 trực thuộc Bộ Quốc phòng.[50] Quân đoàn 3 được thành lập có ý nghĩa rất quan trọng, đánh dấu sự ra đời của quân đoàn chủ lực cơ động thứ 4 của Quân đội nhân dân Việt Nam.[50] Theo quyết định của Bộ Quốc phòng, cơ cấu tổ chức của Quân đoàn 3 bao gồm: Bộ Tư lệnh, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần và các đơn vị trực thuộc. Với thành phần là các đơn vị thuộc khối chủ lực B3 đang trong quá trình phát triển chiến dịch Tây Nguyên, Quân đoàn 3 là một binh đoàn chủ lực binh chủng hợp thành hoàn chỉnh, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, ổn định, sức cơ động cao, hoả lực mạnh, có trình độ và kinh nghiệm tác chiến hiệp đồng binh chủng; có thể độc lập tiến hành một chiến dịch hoặc đảm nhiệm hướng chủ yếu trong đội hình chiến dịch lớn của cấp trên, làm lực lượng quyết định trong các chiến dịch có ý nghĩa chiến lược[50]

Chấp hành Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường quân sự tiến tới thống nhất đất nước, tháng 10 năm 1973 Quân uỷ Trung ương và Bộ Quốc phòng đề nghị Bộ Chính trị thành lập các quân đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam, ở Nam bộ và Cực Nam Trung Bộ, từ đầu năm 1974 Trung ương Cục, Quân uỷ và Bộ tư lệnh Miền đã chỉ đạo lập phương án tổ chức biên chế, dự thảo chức năng nhiệm vụ của một quân đoàn chủ lực trên chiến trường. Sau khi thông qua kế hoạch tổ chức biên chế, ngày 20 tháng 7 năm 1974[51], đồng chí Phạm Hùng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục chính thức công bố quyết định thành lập Quân đoàn 4 tại chiến khu Dương Minh Châu, miền Đông Nam Bộ. Với chức năng là quả đấm chủ lực mạnh, lực lượng cơ động của Bộ ở chiến trường B2, nhiệm vụ của Quân đoàn 4 là tiêu diệt quân địch, giải phóng nhân dân, làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang 3 thứ quân, làm chỗ dựa vững chắc cho lực lượng đấu tranh chính trị của quần chúng, đảm nhận một hướng chiến lược, một khu vực chiến trường, mục tiêu cuối cùng là giải phóng Sài Gòn.[51]

Ngày 26 tháng 5 năm 1975, thành lập Bệnh viện Trung ương Quân đội 175[52]

Ngày 29 tháng 8 năm 1975, Lễ khánh thành Công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức trọng thể tại Hội trường Ba Đình, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã vào Lăng viếng Bác. Hai chiến sĩ tiêu binh Nông Văn Thành dân tộc Tày và Nguyễn Văn Ri dân tộc Kinh được vinh dự làm nhiệm vụ trong phiên gác đầu tiên. Trước đây, thi hài Bác được giữ gìn và bảo vệ trong một không gian hẹp, có điều kiện bảo đảm môi trường trong sạch, tinh khiết. Nay thi hài Bác được giữ gìn trong một không gian rộng, hàng ngày có hàng ngàn lượt người đến viếng, rất khó khăn trong việc bảo đảm các thông số kỹ thuật, an ninh và công tác đón tiếp, tuyên truyền. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, ngày 28 tháng 12 năm 1975, Thường vụ Quân uỷ Trung ương ra Quyết định số 279/VP-QU thông qua việc thành lập Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh lấy phiên hiệu là Bộ Tư lệnh 969. Ngày 14 tháng 5 năm 1976, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 109/QĐ-QP thành lập Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực thuộc Bộ Quốc phòng.[53]

Thống nhất đất nước[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 14 tháng 1 năm 1976, thành lập Trường Sĩ quan Chính trị, sau là Trường Sĩ quan Chính trị Quân sự (1981), Trường Đại học Chính trị (2010).

Ngày 21 tháng 2 năm 1976, thành lập Học viện Quân sự cao cấp, sau đổi thành Học viện Quân sự cấp cao (năm 1981), sau là Học viện Quốc phòng (năm 1994)

Ngày 5 tháng 4 năm 1976, thành lập Tổng cục Xây dựng Kinh tế. Đến ngày 7 tháng 11 năm 1985 chuyển thành Tổng cục Kinh tế (nay là Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng).

Ngày 4 tháng 7 năm 1978, thành lập Bệnh viện Đông y Quân đội, sau là Viện Y học cổ truyền Quân đội[54]

Ngày 7 tháng 3 năm 1979, thành lập Sư đoàn 319 trực thuộc Quân khu 3, sau là Tổng Công ty 319 trực thuộc Bộ Quốc phòng (2011)[55]

Ngày 28 tháng 5 năm 1981, thành lập Viện Lịch sử Quân sự[56]

Ngày 11 tháng 6 năm 1982, Bộ Quốc phòng ra Quyết định số 903/QP thành lập Binh đoàn 11 trực thuộc Bộ Quốc phòng.[57] Sau là Đoàn 11 (5/1988),[57] Công ty xây dựng 11 (10/1989),[57] Tổng công ty Xây dựng 11 (4/1991),[57] và hiện nay là Tổng Công ty Thành An (năm 1996).[57]

Ngày 20 tháng 2 năm 1985, thành lập Tổng Công ty 15 (hay là Binh đoàn 15)

Thời kỳ cải cách mở cửa[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 9 năm 1987, thành lập Tổng Công ty Đầu tư Phát triển nhà và Đô thị

Ngày 7 tháng 3 năm 1988, thành lập Trung tâm Nhiệt đới Việt-Nga

Ngày 1 tháng 6 năm 1989, thành lập Tổng Công ty Điện tử thiết bị thông tin, sau là Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel

Ngày 1 tháng 9 năm 1989, thành lập Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam (hay là Binh đoàn 18)

Ngày 16 tháng 11 năm 1989, thành lập Tổng Công ty Xây dựng Lũng Lô

Ngày 11 tháng 1 năm 1990, thành lập Viện Chiến lược Quốc phòng

Ngày 22 tháng 4 năm 1991, thành lập Tổng Công ty Thái Sơn

Ngày 10 tháng 8 năm 1991, thành lập Tổng Công ty Xuất nhập khẩu Tổng hợp Vạn Xuân (hay là VAXUCO)

Ngày 15 tháng 6 năm 1993, thành lập Phòng Quản lý Thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng, nay là Cục Thi hành án (2005).

Ngày 4 tháng 11 năm 1994, thành lập Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội.

Ngày 24 tháng 12 năm 1994, thành lập Tổng Công ty Đông Bắc

Ngày 28 tháng 8 năm 1998, thành lập Cục Cảnh sát biển. Sau là Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển (2013).

Ngày 8 tháng 12 năm 1998, thành lập Tổng Công ty 16 (hay là Binh đoàn 16)

Ngày 24 tháng 12 năm 1998, thành lập Cục Kinh tế

Ngày 29 tháng 4 năm 1999, thành lập Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn Quân sự.

Hiện nay (từ năm 2000)[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở Bộ Quốc phòng ngày nay tại số 7 Nguyễn Tri Phương, Hà Nội

Từ Thế kỷ 21 trở đi sự hợp tác hòa bình và phát triển vẫn là xu hướng chủ đạo của các Quốc gia. Các nước sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực Quốc phòng-An ninh. Các cấu trúc an ninh mới được dựa trên cơ chế hợp tác đa phương sẽ tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế. Tuy nhiên, tình hình thế giới, khu vực còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, nhất là, tranh chấp chủ quyền trên các vùng biển, đảo; sự cạnh tranh ảnh hưởng địa chiến lược, địa chính trị giữa các nước lớn diễn ra ngày càng gay gắt; các diễn đàn Quốc phòng-An ninh khu vực sẽ đan xen giữa hợp tác và đấu tranh của các bên. Ngoài Cục Đối ngoại của Bộ Quốc phòng ra, lĩnh vực quốc phòng trong nước và quốc tế trước yêu cầu trong thời đại mới cần phải có một cơ quan nghiên cứu chuyên sâu. Vì vậy, ngày 21 tháng 12 năm 2002, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký Quyết định 189/2002/QĐ-BQP thành lập Viện Quan hệ Quốc tế về Quốc phòng nhằm nghiên cứu tình hình quốc phòng - an ninh của khu vực và quốc tế; tham mưu cho Bộ Quốc phòng về công tác đối ngoại quốc phòng, đồng thời trực tiếp tổ chức và tham gia các hội nghị, hội thảo, diễn đàn an ninh đa phương và đối thoại an ninh song phương trong khu vực và quốc tế.[58]

Ngày 20 tháng 7 năm 2005, Bộ Chính trị thông qua Nghị quyết số 51-NQ/TW về tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Theo đó, ngoài cấp trưởng đứng đầu một đơn vị thì còn có Chính ủy, Chính trị viên (trước là cấp phó về chính trị). Theo đó ngày 21 tháng 11 năm 2011, Ban Bí thư ra Quy định số 50-QĐ/TW về Tổ chức cơ quan chính trị trong Quân đội Nhân dân Việt Nam nhằm xác định đúng vai trò, chức năng và hoàn thiện cơ chế thực hiện theo Nghị quyết 51/2005/Bộ Chính trị.[59]

Trong hòa bình, yếu tố chính sách càng trở nên quan trọng. Chính sách phải được hiểu một cách đầy đủ là chế độ chính sách và cơ chế quản lý, tổ chức thực hiện các chính sách đó, bao gồm cả nguồn kinh phí bảo đảm thực hiện chính sách. Chính sách đúng cùng với giáo dục chính trị, tư tưởng tốt mới tạo thành động lực đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân và xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Vì vây, ngày 29 tháng 5 năm 2008 Bộ Quốc phòng đã thành lập cơ quan Bảo hiểm Xã hội Bộ Quốc phòng nhằm giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quản lý toàn bộ việc tổ chức bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong quân đội; đảm bảo các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động đang công tác trong quân đội và trước khi chuyển ra. Đây là việc làm theo đúng quan điểm của Đảng: coi mọi chính sách chính trị, kinh tế, xã hội đều lấy trung tâm là con người, vì con người và do con người phù hợp với sự phát triển mọi mặt của quân đội và đất nước trong giai đoạn mới.[60]

Ngày 12 tháng 10 năm 2010, Bộ Quốc phòng tổ chức thành công Hội nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng các nước ASEAN Mở rộng (ADMM+) lần thứ nhất tại Hà Nội. Tham dự Hội nghị có Bộ trưởng Quốc phòng và Đại diện Bộ trưởng Quốc phòng 10 quốc gia thành viên ASEAN và 8 nước đối tác đối thoại của ASEAN (dưới đây gọi tắt là các nước "Cộng"), bao gồm Ốt-xtrây-li-a, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Niu Di Lân, Nga, Mỹ và Tổng thư ký ASEAN.

Lịch sử thế giới hiện đại ít khi chứng kiến việc các Bộ trưởng, đại diện Bộ trưởng Quốc phòng của 18 quốc gia trên thế giới cùng ngồi lại với nhau không phải bàn về chiến tranh, mà để cùng nhau chia sẻ và bàn thảo về hợp tác Quốc phòng-an ninh thiết thực, vì hoà bình, ổn định và phát triển.[58]

Phùng Quang Thanh- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng

Đây là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử ASEAN bởi ADMM+ là diễn đàn quốc phòng chính thức đầu tiên cấp bộ trưởng quốc phòng giữa ASEAN và các nước đối tác chủ chốt ngoài khu vực. Hội nghị khẳng định tầm quan trọng của việc giữ vững vai trò trung tâm của ASEAN trong tiến trình ADMM+ và nhấn mạnh rằng hợp tác trong khuôn khổ ADMM+ cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của ASEAN là tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, tham vấn, đồng thuận và với nhịp độ phù hợp với tất cả các nước thành viên. Hội nghị khẳng định ADMM+ là một bộ phận quan trọng của cấu trúc an ninh khu vực năng động, hiệu quả, mở và dung nạp. ADMM+ sẽ góp phần tăng cường hữu nghị, lòng tin và hiểu biết lẫn nhau thông qua đối thoại và hợp tác quốc phòng giữa các nước thành viên ADMM+.[61][62][63]

Ngày 23 tháng 8 năm 2011, thành lập Tổng Công ty 36

Ngày 4 tháng 6 năm 2012, trong buổi tiếp thân mật Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ Leon Edward Panetta, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh đề nghị: “Nếu được dỡ bỏ lệnh cấm bán vũ khí sát thương, chúng tôi có nhu cầu mua một số loại vũ khí trang bị trước hết để sửa chữa, bảo quản, nâng cấp các loại vũ khí chúng tôi thu được trong chiến tranh. Sau đó, chúng tôi sẽ lựa chọn mua những loại trang bị vũ khí phù hợp yêu cầu hiện đại hóa quân đội của Việt Nam với giá cả cạnh tranh”[64]

Ngày 27 tháng 5 năm 2014, thành lập Trung tâm Gìn giữ Hòa bình Việt Nam. Đây là một việc làm thực tế để Quân đội, Chính phủ và nhân dân Việt Nam chứng minh bằng hành động về những cam kết hội nhập quốc tế toàn diện mà Đảng đã đề ra.[65]

Việc thành lập Trung tâm gìn giữ hòa bình Việt Nam và cử 2 sĩ quan lên đường làm nhiệm vụ tại Phái bộ Nam Xu-đăng là sự kiện có ý nghĩa chính trị quan trọng, đánh dấu sự tham gia chính thức của Việt Nam vào hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hợp Quốc. Hòa bình chỉ có thể được kiến tạo khi những hành động đơn phương trái với luật pháp quốc tế phải được đấu tranh loại bỏ. Hòa bình chỉ có thể được giữ gìn khi khi các quốc gia dù lớn hay nhỏ đều phải tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, đều cùng chia sẻ trách nhiệm gìn giữ hòa bình bằng những hành động thiết thực, cụ thể[66]

Vũ Đức Đam- Phó Thủ tướng Chính phủ

Ngày 21 tháng 10 năm 2014, tại Hà Nội đã diễn ra Đối thoại Chính sách Quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2014. Hai bên trao đổi tình hình thế giới, khu vực cùng quan tâm và kiểm điểm lại kết quả đạt được trên 5 lĩnh vực được nêu trong Bản ghi nhớ về hợp tác quốc phòng song phương và thống nhất, trong thời gian qua, một số lĩnh vực có bước phát triển mới, nhất là các hoạt động hợp tác mang tính chất nhân đạo như tìm kiếm quân nhân mất tích (MIA); rà phá bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh, tẩy rửa chất độc da cam/dioxin...[67]

Ngày 16 tháng 1 năm 2015, tại thủ đô New Delhi (Ấn Độ) đã khai mạc Đối thoại chiến lược quốc phòng Ấn Độ - Việt Nam lần thứ 9. Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu đoàn Việt Nam tham dự Đối thoại. Hai bên đã trao đổi về tình hình quốc tế, khu vực và tiếp tục thống nhất rằng hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế chung của tất cả các quốc gia trong thời đại ngày nay, mọi tranh chấp, bất đồng cần được giải quyết thông qua đối thoại hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực.  [68]

Ngày 3 tháng 3 năm 2015, Bộ Quốc phòng Việt Nam tuyên bố, Việt NamIsrale ký kết Bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng, nỗ lực thúc đẩy quan hệ song phương, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực như hoạt động quân sự, chuyển nhượng công nghệ, hợp tác công nghiệp quân sự.[69]

Ngày 18 tháng 3 năm 2015, Đoàn đại biểu quân sự cấp cao Việt Nam do Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng dẫn đầu, đã kết thúc tốt đẹp chuyến đi dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN lần thứ 9 (ADMM-9) và dự khai mạc Triển lãm Hàng không-Hàng hải quốc tế Langkawi năm 2015 (LIMA 2015) tại Malaixia. Thông qua cơ chế ADMM, ASEAN muốn gửi đến cộng đồng quốc tế một hình ảnh ASEAN đoàn kết, đồng thuận và hợp tác có hiệu quả. Ma-lai-xi-a cam kết sẽ làm hết sức mình trong việc góp phần vào duy trì hòa bình, ổn định và an ninh trong khu vực theo các chuẩn mực quốc tế.[70]

Ngày 27 tháng 3 năm 2015, Cổng Thông tin Điện tử Ngành Chính sách quân đội chính thức đi vào hoạt động nhằm góp phần tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với Quân đội, hậu phương Quân đội; chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động Công tác chính sách trong toàn quân; thực hiện từng bước các dịch vụ hành chính công trực tuyến nhằm công khai, minh bạch các chế độ, chính sách, quy trình, trách nhiệm tổ chức thực hiện của các cấp, các ngành; thông tin kịp thời hơn về lĩnh vực Công tác chính sách. Đồng thời, đây là trang tin điện tử của Văn phòng Ban chỉ đạo Quốc gia, là một trong những địa chỉ tiếp nhận, cung cấp thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ phục vụ cho thực hiện Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo của Ban chỉ đạo Quốc gia 1237.[71]

Lực lượng Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Sách trắng không công bố con số lực lượng quốc phòng.

Theo globalfirepower Bảng xếp hạng thực lực quân sự của các quốc gia trên thế giời thì Tổng quân số lực lượng chính quy của Việt Nam tính đến năm 2013 là 412.000 người. Lực lượng dự bị động viên cục bộ: 5.040.000 người. Lực lượng dự bị động viên toàn quốc: 50.645.030 người. Lực lượng phục vụ: 41.503.949 người.[72]

Theo Cổng Thông tin Điện tử Bộ Quốc phòng thì: Tổng Quân số lực lượng chính quy khoảng 450.000 người. Lực lượng dự bị khoảng 5 triệu người.[73]

Theo Thống kê tương đối từng đơn vị cho thấy: Tổng Quân số Lực lượng theo biên chế là khoảng 1 triệu người gồm: Khối cơ quan đầu não (BTTM, các Tổng cục): 84.000; Khối Quân chủng: 185.000; Khối Quân khu: 245.000; Khối Quân đoàn: 130.000; Khối Binh chủng: 58.000; Khối Học viện Nhà trường: 46.000; Khối cơ quan chuyên môn: 15.350; Khối Viện Trung tâm Nghiên cứu: 15.500; Khối Doanh nghiệp Quân đội: 214.500[74]

Ngân sách Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Quốc phòng không công bố con số chính xác về ngân sách quốc phòng.

TT Năm Ngân sách Ghi chú
1 2005 16.278 tỉ đồng[75]
2 2006 20.577 tỉ đồng[75]
3 2007 28.922 tỉ đồng[75]
4 2008 27.024 tỉ đồng[75]
5 2009 chưa công bố
6 2010 chưa công bố
7 2011 52.000 tỉ đồng[76]
8 2012 70.000 tỉ đồng[76]
9 2013 68.000 tỉ đồng[77]
10 2014 chưa công bố

Năm 2014, Ngân sách chi cho lĩnh vực sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính 704.400 tỷ đồng. Còn ngân sách cụ thể chi cho Quốc phòng thì vẫn là điều tuyệt mật[78]

Không phải ngẫu nhiên mà ngân sách ghép phần chi cho sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý hành chính vào làm một nhóm, bởi 4 nhóm này có quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời nhau, nên không thể trả lời cụ thể con số chi cho quốc phòng là bao nhiêu. Đơn cử, trong khoản chi này có khoản chi lương, không thể tách phần chi lương cho lực lượng quốc phòng riêng ra được. Hơn nữa, nhiều khoản chi gián tiếp khác cho quốc phòng, nhưng lại liên quan trực tiếp đến chi không phải quốc phòng cũng không thể tách ra để tính vào chi cho quốc phòng được

Phùng Quốc Hiển- Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính-Ngân sách Quốc hội

Sách trắng về quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Nhằm mục đích bày tỏ quan điểm của Việt Nam về những vấn đề an ninh mới của khu vực và thế giới, Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố sách trắng về quốc phòng của Việt Nam. Sách trắng lần thứ nhất mang tên "Việt Nam củng cố quốc phòng bảo vệ Tổ quốc" vào năm 1998. Gồm 3 phần: Vì hòa bình, độc lập và phát triển, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh.[79]

Sách trắng lần hai vào ngày 9 tháng 12 năm 2004 với tên gọi là "Quốc phòng Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XXI", được xuất bản bằng hai thứ tiếng Việttiếng Anh, gồm 3 phần chính: Chính sách quốc phòng Việt Nam, Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, Xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân. Với chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền và lợi ích của các quốc gia khác theo những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế, chủ trương không tham gia bất kỳ liên minh quân sự nào; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ của mình, không sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực đối với nước khác. Ngoài ra Việt Nam khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với vùng biển, đảo của Việt Nam trên Biển Đông.[80]

Cột mốc biên giới số 102 giữa Việt NamTrung Quốc tại Cửa khẩu quốc tế Lào Cai

Sách trắng lần thứ ba vào ngày 8 tháng 12 năm 2009 với tên gọi là "Sách trắng Quốc phòng năm 2009" được xuất bản bằng hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh với chủ trương duy trì và phát triển quốc phòng đủ mạnh, kiên trì chính sách quốc phòng mang tính chất hoà bình, tự vệ mà trọng tâm là xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Việt Nam xây dựng quân đội "của dân, do dân, vì dân", có tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị hùng hậu, được huấn luyện và trang bị các loại vũ khí ngày càng hiện đại, đủ khả năng bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, các lợi ích quốc gia và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đẩy mạnh hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các tranh chấp lãnh thổ và các tranh chấp khác bằng các biện pháp hoà bình, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định và thịnh vượng. Việc xuất bản Sách trắng năm 2009 thể hiện mong muốn và quyết tâm của Việt Nam trong việc phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác, bình đẳng với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.[81]

Hiệp định về Biên giới[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc[82][83]
  • Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc[82][83]
  • Hiệp định biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc[82][83]
  • Hiệp định phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Lào[82][83]
  • Hiệp định phân định biên giới trên bộ giữa Việt Nam và CamPuChia[82][83]
  • Hiệp định vùng nước lịch sử giữa Việt Nam và CamPuChia[82][83]
  • Hiệp định phân định vùng biển giữa Việt Nam và Thái Lan[82][83]
  • Hiệp định phân định ranh giới thềm lục địa giữa Việt Nam và Inđônếsia[82][83]
  • Thỏa thuận hợp tác thăm dò và khai thác chung vùng chồng lấn giữa Việt Nam và Malaisia[82][83]

Lãnh đạo hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

TT Chức vụ Họ tên Đảm nhiệm Chức trách nhiệm vụ Ghi chú
1 Bộ trưởng Vietnam People's Army General Left.jpg Phùng Quang Thanh Từ 2006 phụ trách chung, Bộ Tư lệnh Thủ đô, Tài chính, Bảo hiểm.
2 Tổng Tham mưu trưởng Vietnam People's Army Colonel General Left.jpg Đỗ Bá Tỵ Từ 2010 phụ trách Lục quân
3 Thứ trưởng Vietnam People's Army Colonel General Left.jpg Nguyễn Chí Vịnh Từ 2009 phụ trách Tình báo, Ngoại giao
4 Thứ trưởng Vietnam People's Army Colonel General Left.jpg Nguyễn Văn Hiến Từ 2009 phụ trách Hải quân
5 Thứ trưởng Vietnam People's Army Colonel General Left.jpg Trương Quang Khánh Từ 2009 phụ trách Hậu cần, Kỹ thuật, Công nghiệp quốc phòng
6 Thứ trưởng Vietnam People's Army Colonel General Left.jpg Lê Hữu Đức Từ 2010 phụ trách Tài chính, PK-KQ, Kinh tế, Tổng công ty, Đầu tư.
7 Thứ trưởng Vietnam People's Army Colonel General Left.jpg Nguyễn Thành Cung Từ 2011 phụ trách Tổng cục chính trị, khối Học viện.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

1945-1950[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi thành lập Bộ Quốc phòng, quy định trong Sắc lệnh của Chủ tịch nước, người chỉ huy cao nhất của Bộ Quốc phòng là Bộ trưởng, tiếp theo là Thứ trưởng. Trong những năm 1946, 1947, 1948, Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy hợp nhất sau đó lại tách ra rồi lại hợp nhất thì người chỉ huy cao nhất Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy là Tổng Tư lệnh kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Giúp việc cho Bộ trưởng có các Thứ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng.

Sau khi hợp nhất giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Chỉ huy thì tổ chức của Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy thống nhất gồm Bộ Tổng Tham mưu đứng đầu là Tổng Tham mưu trưởng, Cục Chính trị và các Cục chuyên ngành trực thuộc Bộ.

Trong thời kỳ này, mô hình tổ chức của Bộ Quốc phòng còn sơ khai, thể hiện định hướng cho sự phát triển lớn mạnh hơn về tổ chức sau này. Các cơ quan, đơn vị mới được thành lập là tiền thân cho sự phát triển của các cơ quan, đơn vị sau này. Bộ Quốc phòng được xây dựng theo mô hình tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, cơ chế ngành dọc chuyên môn, chịu sự chỉ huy trực tiếp của thủ trưởng đơn vị cấp mình và sự chỉ huy gián tiếp của thủ trưởng đơn vị cấp trên theo chuyên ngành.

1950-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tư lệnh hợp nhất thành Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh, người chỉ huy cao nhất là Tổng Tư lệnh kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Hai cơ quan Bộ Tổng Tham mưu và Tổng cục Chính trị là cơ quan đầu ngành về công tác Tham mưu và Chính trị, đứng đầu hai cơ quan là Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.

1975-2000[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thống nhất đất nước, năm 1976, Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh chấm dứt hoạt động chỉ còn lại Bộ Quốc phòng. Khi đó người chỉ huy cao nhất của Bộ Quốc phòng là Bộ trưởng là người quân sự và là Ủy viên Bộ Chính trị.

Hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

Với chủ trương tinh giản biên chế gọn nhẹ của Chính phủ. Từ những năm 2000 đến nay, tổ chức của Bộ Quốc phòng chuyển đổi theo hướng giảm số lượng nhân sự nâng cao chất lượng, tinh nhuệ, gọn nhẹ, từng bước hiện đại hóa, đáp ứng đủ nhu cầu nhiệm vụ bảo vệ Quốc gia. Tổ chức của Bộ Quốc phòng theo ngành dọc về cơ quan chuyên môn, có chỉ huy trực tiếp và gián tiếp theo ngành dọc. Người chỉ huy cao nhất Bộ Quốc phòng vẫn là Bộ trưởng đồng thời là Ủy viên Hội đồng Quốc phòng và An ninh quốc gia, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, giúp việc cho Bộ trưởng có các Thứ trưởng, Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị.[84]

Về tổ chức gồm Bộ Tổng Tham mưu, Tổng cục Chính trị, các Tổng cục, Cục chức năng, quân khu, quân chủng, binh chủng, quân đoàn, Học viện nhà trường và các đơn vị kinh tế trực thuộc Bộ.

Sơ đồ tổ chức từ năm 2010

Bo Quoc phong viet nam.jpg

Chi tiết

Phù hiệu Tổ chức Thành lập Quân số ước tính Cấp Trưởng Chính ủy Trụ sở Biển số xe
Vietnam People's Army General Staff insignia.jpg Bộ Tổng Tham mưu 7/9/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000232.000000232 ngày)

12.000 Vietnam People's Army Colonel General Left.jpg
Đỗ Bá Tỵ
Số 7, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội TM
TCCT.jpg Tổng cục Chính trị 22/12/1944

(&0000000000000070.00000070 năm, &0000000000000126.000000126 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Colonel General Left.jpg
Ngô Xuân Lịch
Số 7, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội TC
Khối Tổng cục (82.000 người)
Tổng cục Hậu cần 11/7/1950

(&0000000000000064.00000064 năm, &0000000000000290.000000290 ngày)

15.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Dương Văn Rã
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Lê Văn Hoàng
Số 5, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội TH
Tổng cục Kỹ thuật 10/9/1974

(&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000229.000000229 ngày)

17.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Nguyễn Châu Thanh
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Hà Minh Thám
Số 5, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội TT
Tổng cục Tình báo 25/10/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000184.000000184 ngày)

25.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Phạm Ngọc Hùng
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Dương Xuân Vinh
TN
Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng 15/9/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000224.000000224 ngày)

25.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Nguyễn Đức Lâm
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Khuất Việt Dũng
Số 5, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội TK
Khối Quân chủng (185.000 người)
Vietnam People's Navy insignia.png Quân chủng Hải quân 7/5/1955

(&0000000000000059.00000059 năm, &0000000000000355.000000355 ngày)

50.000 Vietnam People's Navy Admiral Left.jpg
Nguyễn Văn Hiến
Vietnam People's Navy Rear Admiral Left.jpg
Đinh Gia Thật
Số 5, Lý Tự Trọng, Hồng Bàng, Hải Phòng QH
Vietnam People's Air Force insignia.png Quân chủng Phòng không-Không quân 22/10/1963

(&0000000000000051.00000051 năm, &0000000000000187.000000187 ngày)

35.000 Vietnam People's Air Force Lieutenant General Left.jpg
Phương Minh Hòa
Vietnam People's Air Force Lieutenant General Left.jpg
Nguyễn Văn Thanh
Số 176, đường Trường Chinh, Hà Nội QA
Vietnam Border Defense Force insignia.jpg Bộ đội Biên phòng 19/11/1958

(&0000000000000056.00000056 năm, &0000000000000159.000000159 ngày)

70.000 Vietnam Border Defense Force Colonel General Left.jpg
Võ Trọng Việt
Vietnam Border Defense Force Colonel General Left.jpg
Phạm Huy Tập
Số 4, phố Đinh Công Tráng, Hà Nội QB
Vietnam Marine Police insignia.jpg Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển 28/8/1998

(&0000000000000016.00000016 năm, &0000000000000242.000000242 ngày)

20.000 Vietnam Marine Police Major General Left.jpg
Nguyễn Quang Đạm
Vietnam Marine Police Major General Left.jpg
Nguyễn Văn Tương
Số 94, Lê Lợi, Hà Đông, Hà Nội BS
11 Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh 29/8/1975

(&0000000000000039.00000039 năm, &0000000000000241.000000241 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Văn Cương
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Phạm Văn Lập
Số 2, Ông Ích Khiêm, Ba Đình, Hà Nội BL
Khối Quân khu (237.000 người)
12 Bộ Tư lệnh Thủ đô

(Bảo vệ Thủ đô Hà Nội)

19/10/1946

(&0000000000000068.00000068 năm, &0000000000000190.000000190 ngày)

15.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Phí Quốc Tuấn
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
 Lê Hùng Mạnh
Số 8, đường Phạm Hùng, Hà Nội KT
13 Quân khu 1

(Bảo vệ vùng Đông Bắc)

16/10/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000193.000000193 ngày)

35.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Phan Văn Giang
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Nguyễn Sỹ Thăng
huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên KA
14 Quân khu 2

(Bảo vệ vùng Tây Bắc)

19/10/1946

(&0000000000000068.00000068 năm, &0000000000000190.000000190 ngày)

33.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Dương Đức Hòa
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Nguyễn Ngọc Liên
Việt Trì, Phú Thọ KB
15 Quân khu 3

(Bảo vệ vùng Đồng bằng sông Hồng)

31/10/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000178.000000178 ngày)

27.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
 Phạm Hồng Hương
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đỗ Căn
Kiến An, Hải Phòng. KC
Quankhu4.jpg Quân khu 4

(Bảo vệ vùng Bắc Trung Bộ)

15/10/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000194.000000194 ngày)

35.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Tân Cương
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Võ Văn Việt
đường Lê Duẩn, TP.Vinh, Nghệ An KD
Quan khu 5.jpg Quân khu 5

(Bảo vệ vùng Nam Trung Bộ)

16/10/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000193.000000193 ngày)

28.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Long Cáng
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Trần Quang Phương
Số 15A, đường Duy Tân, Đà Nẵng KV
Quân khu 7.jpg Quân khu 7

(Bảo vệ vùng Đông Nam Bộ)

10/12/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000138.000000138 ngày)

34.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Trần Đơn
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Phạm Văn Dỹ
204, Hoàng Văn Thụ, Phú Nhuận, Hồ Chí Minh KP
19 Quân khu 9

(Bảo vệ vùng Tây Nam Bộ)

10/12/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000138.000000138 ngày)

30.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Nguyễn Phương Nam
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Đinh Văn Cai
phường An Thới, TP. Cần Thơ KK
Khối Quân đoàn (130.000 người)
Quân đoàn 1.jpg Quân đoàn 1 

(Binh đoàn Quyết Thắng)

24/10/1973

(&0000000000000041.00000041 năm, &0000000000000185.000000185 ngày)

32.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Trần Việt Khoa
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Lương Đình Hồng
Thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình. AA
Quân đoàn 2.jpg Quân đoàn 2

(Binh đoàn Hương Giang)

17/5/1974

(&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000345.000000345 ngày)

32.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Phạm Văn Hưng
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Hà Tuấn Vũ
Thị trấn Vôi, Lạng Giang, Bắc Giang. AB
Quân đoàn 3

(Binh đoàn Tây Nguyên)

26/3/1975

(&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000032.00000032 ngày)

32.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đậu Đình Toàn
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Duy Quyền
Phường Trà Bá, Pleiku, Gia Lai. AC
Quân đoàn 4

(Binh đoàn Cửu Long)

20/7/1974

(&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000281.000000281 ngày)

32.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Võ Trọng Hệ
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Hoàng Văn Nghĩa
KCN Sóng Thần, TX.Dĩ An, Bình Dương AD
Khối Binh chủng (58.000 người)
Binh chủng Pháo binh 29/6/1946

(&0000000000000068.00000068 năm, &0000000000000302.000000302 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Văn Côn
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Thanh Ngụ
Phố Đội Cấn, quận Ba Đình, Hà Nội BP
25 Binh chủng Hóa học 19/4/1958

(&0000000000000057.00000057 năm, &0000000000000008.0000008 ngày)

7.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Thanh Tùng
Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Phạm Đức Thọ
Dịch Vọng Hậu, Cầu Giấy, Hà Nội BH
Binh chủng Công binh 25/3/1946

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000033.00000033 ngày)

12.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Trần Hồng Minh
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Trần Xuân Mạnh
459 phố Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội BC
Binh chủng Tăng-Thiết giáp 5/10/1965

(&0000000000000049.00000049 năm, &0000000000000204.000000204 ngày)

9.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Khắc Nam
Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Vũ Mạnh Trí
đường Hoàng Quốc việt, Cầu Giấy, Hà Nội. BB
Binh chủng Thông tin liên lạc 9/9/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000230.000000230 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Vũ Anh Văn
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Ngô Kim Đồng
phố Giang Văn Minh, Ba Đình, Hà Nội. BT
Binh chủng Đặc công 19/3/1967

(&0000000000000048.00000048 năm, &0000000000000039.00000039 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đỗ Thanh Bình
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Trịnh Xuân Chuyền
huyện Thanh Trì, Hà Nội. BK
Khối Học viện Nhà trường (56.000 người)
30 Học viện Quốc phòng Việt Nam

(Học viện Quân sự cấp cao)

3/1/1977

(&0000000000000038.00000038 năm, &0000000000000114.000000114 ngày)

1.000 Vietnam People's Army Colonel General Left.jpg
Võ Tiến Trung
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Bùi Văn Tâm
số 93, đường Hoàng Quốc Việt, Hà Nội HA
31 Học viện Chính trị

(Học viện Quân sự cấp trung)

25/10/1951

(&0000000000000063.00000063 năm, &0000000000000184.000000184 ngày)

3.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Đình Minh
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Trần Đức Nhân
Số 124, Ngô Quyền, Hà Đông, Hà Nội HC
32 Học viện Lục quân Đà Lạt

(Học viện Quân sự cấp trung) 

7/7/1946

(&0000000000000068.00000068 năm, &0000000000000294.000000294 ngày)

3.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Hoàng Văn Minh
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Lê Anh Thơ
phường 9, TP. Đà Lạt, Lâm Đồng HB
Le Quy Don Technical University Logo.gif Học viện Kỹ thuật Quân sự

(Đại học Kỹ thuật Lê Quý Đôn)

28/10/1966

(&0000000000000048.00000048 năm, &0000000000000181.000000181 ngày)

18.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Công Định
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Trần Tấn Hùng
236, đường Hoàng Quốc Việt, Hà Nội HD
Hoc vien Quan y.jpg Học viện Quân Y

(Đại học Y dược Lê Hữu Trác)

10/3/1949

(&0000000000000066.00000066 năm, &0000000000000048.00000048 ngày)

5.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đỗ Quyết
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Nguyễn Trọng Chính
104, Phùng Hưng, Hà Đông, Hà Nội HH
35 Học viện Hậu cần 15/6/1951

(&0000000000000063.00000063 năm, &0000000000000316.000000316 ngày)

5.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Lưu Văn Miểu
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Đặng Nam Điền
Ngọc Thụy, Long Biên, Hà Nội. HE
Luc Quan 1.jpg Trường Sĩ quan Lục quân 1

(Đại học Trần Quốc Tuấn)

15/4/1945

(&0000000000000070.00000070 năm, &0000000000000012.00000012 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đỗ Viết Toản
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Trương Đình Quý
Cổ Đông, Sơn Tây, Hà Nội HT
37 Trường Sĩ quan Lục quân 2

(Đại học Nguyễn Huệ)

27/6/1961

(&0000000000000053.00000053 năm, &0000000000000304.000000304 ngày)

6.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Từ Ngọc Lương
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Lê Thái Bê
Tam Phước, TP.Biên Hòa, Đồng Nai HQ
Dai hoc chinh tri.jpg Trường Đại học Chính trị 14/1/1976

(&0000000000000039.00000039 năm, &0000000000000103.000000103 ngày)

5.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Phạm Quốc Trung
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Văn Đủ
Thạch Hòa, Thạch Thất, Hà Nội HN
Khối Cơ quan chuyên môn (15.350 người)
39 Văn phòng Bộ Quốc phòng 25/3/1946

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000033.00000033 ngày)

700 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Vũ Văn Hiển
số 7, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội TM
40 Thanh tra Bộ 25/1/1948

(&0000000000000067.00000067 năm, &0000000000000092.00000092 ngày)

300 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Nguyễn Đình Giang
số 7, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội TM
Ban Cơ yếu Chính phủ 12/9/1945

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000227.000000227 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đặng Vũ Sơn
số 105, Nguyễn Chí Thanh, Hà Nội PK
42 Cục Quân Y 16/4/1946

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000011.00000011 ngày)

1.500 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Vũ Quốc Bình
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đặng Quốc Khánh
số 7, Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội PY
43 Cục Tài chính 25/3/1946

(&0000000000000069.00000069 năm, &0000000000000033.00000033 ngày)

200 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Phạm Quang Vinh
14A9, Lý Nam Đế, Hà Nội PT
44 Cục Kế hoạch và Đầu tư 20/3/1975

(&0000000000000040.00000040 năm, &0000000000000038.00000038 ngày)

700 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Mạnh Hùng
TM
Cuc kinh te.jpg Cục Kinh tế 24/12/1998

(&0000000000000016.00000016 năm, &0000000000000124.000000124 ngày)

500 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Trần Trung Tín
28A, Điện Biên Phủ, Hà Nội TM
46 Cục Khoa học Quân sự 10/4/1958

(&0000000000000057.00000057 năm, &0000000000000017.00000017 ngày)

200 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Nguyễn Đôn Tuân
Số 2 Nguyễn Tri Phương, Ba Đình, Hà Nội TM
47 Cục Tiêu chuẩn-Đo lường-Chất lượng 3/7/1971

(&0000000000000043.00000043 năm, &0000000000000298.000000298 ngày)

500 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Lê Đình Đạt
11, Hoàng Sâm, Cầu Giấy, Hà Nội TM
48 Cục Đối ngoại 28/5/1964

(&0000000000000050.00000050 năm, &0000000000000334.000000334 ngày)

300 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Vũ Chiến Thắng
33, Phạm Ngũ Lão, Hoàn Kiếm, Hà Nội PA
49 Cục Điều tra Hình sự 19/11/1948

(&0000000000000066.00000066 năm, &0000000000000159.000000159 ngày)

200 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Lê Văn Hợp
14A8, Lý Nam Đế, Hà Nội TM
50 Cục Thi hành án 15/6/1993

(&0000000000000021.00000021 năm, &0000000000000316.000000316 ngày)

200 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Phạm Ngọc Trai
TM
51 Vụ Pháp chế 50 Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Hàn Mạnh Thắng
TM
Khối Viện Trung tâm Nghiên cứu (15.500 người)
52 Viện Chiến lược Quốc phòng 11/1/1990

(&0000000000000025.00000025 năm, &0000000000000106.000000106 ngày)

400 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Nguyễn Đức Hải
Số 3B, Hoàng Diệu, Hà Nội TM
53 Viện Khoa học và Công nghệ Quân sự 12/10/1960

(&0000000000000054.00000054 năm, &0000000000000197.000000197 ngày)

3.000 Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Đoàn Nhật Tiến
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Hoàng Bằng
Số 17, phố Hoàng Sâm, Cầu Giấy, Hà Nội PQ
54 Viện Lịch sử Quân sự 28/5/1981

(&0000000000000033.00000033 năm, &0000000000000334.000000334 ngày)

500 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Vũ Quang Đạo
đường Hoàng Diệu, Hà Nội PL
Viện Quan hệ Quốc tế về Quốc phòng 21/12/2002

(&0000000000000012.00000012 năm, &0000000000000127.000000127 ngày)

200 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Vũ Tiến Trọng
PA
Vien thiet ke.jpg Viện Thiết kế 23/1/1955

(&0000000000000060.00000060 năm, &0000000000000094.00000094 ngày)

1.500 Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Lê Minh Chính
21, Lê Văn Lương, Thanh Xuân, Hà Nội PM
58 Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga 7/3/1988

(&0000000000000027.00000027 năm, &0000000000000051.00000051 ngày)

1.500 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Hồng Dư
Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Trịnh Xuân Sơn
đường Nguyễn Văn Huyên, Nghĩa Đô, Cầu Giấy, Hà Nội PX
59 Trung tâm Thông tin Khoa học Quân sự 8/4/1982

(&0000000000000033.00000033 năm, &0000000000000019.00000019 ngày)

300 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Kim Lãm
TM
Benh vien 108.jpg Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 1/4/1951

(&0000000000000064.00000064 năm, &0000000000000026.00000026 ngày)

4.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Mai Hồng Bàng
Vietnam People's Army Lieutenant General Left.jpg
Lê Thu Hà
Số 1, Trần Hưng Đạo, Hà Nội PP
Benh vien 175.jpg Bệnh viện Trung ương Quân đội 175 26/5/1975

(&0000000000000039.00000039 năm, &0000000000000336.000000336 ngày)

2.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Hồng Sơn
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Hoàng Thanh Bình
786, Nguyễn Kiệm, Gò Vấp, Hố Chí Minh PP
VYHCTQD.jpg Viện Y học cổ truyền Quân đội 4/7/1978

(&0000000000000036.00000036 năm, &0000000000000297.000000297 ngày)

1.500 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Minh Hà
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Thị Thanh Hà
442, Kim Giang, Hoàng Mai, Hà Nội PP
BHXHBQP.jpg Bảo hiểm Xã hội Bộ Quốc phòng 29/5/2008

(&0000000000000006.0000006 năm, &0000000000000333.000000333 ngày)

200 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Hồ Thủy
Số 28, phố Lý Nam Đế, Hà Nội TM
TTGGHBVN.jpg Trung tâm Gìn giữ hòa bình Việt Nam 27/5/2014

(&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000335.000000335 ngày)

200 Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Hoàng Kim Phụng
PG
Khối Doanh nghiệp Quân đội (214.500 người)
Logo Viettel.svg Tập đoàn Viễn thông Quân đội 1/6/1989

(&0000000000000025.00000025 năm, &0000000000000330.000000330 ngày)

25.000[85] Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Mạnh Hùng
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Lê Đăng Dũng
Số 1, Trần Hữu Dực, Mỹ Đình 1, Nam Từ Liêm, Hà Nội VT
VAXUCO.png Tổng Công ty VAXUCO 10/08/1991

(&0000000000000023.00000023 năm, &0000000000000260.000000260 ngày)

17.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đào Ngọc Thạch
33B Phạm Ngũ Lão - Hoàn Kiếm - Hà Nội
Tong Cong ty Truc thang Viet Nam.jpg Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam

(Binh đoàn 18)

1/9/1989

(&0000000000000025.00000025 năm, &0000000000000238.000000238 ngày)

8.000 Vietnam People's Air Force Major General Left.jpg
Hà Tiến Dũng
Vietnam People's Air Force Senior Colonel Left.jpg
Vi Công Dũng
Số 172, đường Trường Chinh, Hà Nội
Truong son.jpg Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn

(Binh đoàn 12)

19/5/1959

(&0000000000000055.00000055 năm, &0000000000000343.000000343 ngày)

15.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đỗ Giang Nam
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đào Văn Tân
Số 475, đường Nguyễn Trãi, Hà Nội AT
Thanh an.jpg Tổng Công ty Thành An

 (Binh đoàn 11)

11/6/1982

(&0000000000000032.00000032 năm, &0000000000000320.000000320 ngày)

15.000 Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Võ Hồng Thắng
Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Trần Quang Trung
141 Hồ Đắc Di, Đống Đa, Hà Nội. AV
Binh doan 15.jpg Tổng Công ty 15

(Binh đoàn 15)

20/2/1985

(&0000000000000030.00000030 năm, &0000000000000066.00000066 ngày)

17.000[86] Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Đặng Anh Dũng
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Nguyễn Duy Ngọ
Yên Thế, TP.Pleiku, Gia Lai. AN
71 Tổng Công ty 16

(Binh đoàn 16)

8/12/1998

(&0000000000000016.00000016 năm, &0000000000000140.000000140 ngày)

12.000[87] Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Lê Đức Thọ
Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Võ Quyết Chiến
Đồng Tiến, Đồng Phú, Bình Phước AX
Dong Bac.jpg Tổng Công ty Đông Bắc 24/12/1994

(&0000000000000020.00000020 năm, &0000000000000124.000000124 ngày)

12.000[88] Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Phạm Ngọc Tuyển
Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Phạm Hải Quang
Hồng Hải, TP. Hạ Long, Quảng Ninh DB
Lung lo.jpg Tổng Công ty Xây dựng Lũng Lô 16/11/1989

(&0000000000000025.00000025 năm, &0000000000000162.000000162 ngày)

9.000 Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Tăng Văn Chúc
Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Trần Trọng Dũng
162 Trường Chinh, Đống Đa, Hà Nội CV
Thai son.jpg Tổng Công ty Thái Sơn 22/4/1991

(&0000000000000024.00000024 năm, &0000000000000005.0000005 ngày)

11.500 Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Phùng Danh Thắm
Số 32, đường Phùng Khắc Khoan, Quân 1, TP Hồ Chí Minh. CC
Tong cong ty 319.jpg Tổng Công ty 319 7/3/1979

(&0000000000000036.00000036 năm, &0000000000000051.00000051 ngày)

10.000 Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Trần Đăng Tú
Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Phùng Quang Hải
63, Lê Văn Lương, Cầu Giấy, Hà Nội CP
Tong cong ty 36.jpg Tổng Công ty 36 23/8/2011

(&0000000000000003.0000003 năm, &0000000000000247.000000247 ngày)

2.000[89] Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Nguyễn Đăng Giáp
Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Đoàn Minh Tuấn
141 Hồ Đắc Di, Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội CA
MHDI.jpg Tổng Công ty Đầu tư Phát triển nhà và Đô thị 17/9/1987

(&0000000000000027.00000027 năm, &0000000000000222.000000222 ngày)

700 Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Nguyễn Ngọc Dũng
86 Lê Trọng Tấn, Khương Mai, Thanh Xuân, Hà Nội. CA
NHQD.gif Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội 4/11/1994

(&0000000000000020.00000020 năm, &0000000000000174.000000174 ngày)

6.000[90] Vietnam People's Army Major General Left.jpg
Lê Công
Vietnam People's Army Senior Colonel Left.jpg
Đỗ Văn Hưng
21, Cát Linh, Đống Đa, Hà Nội CB

Tổ chức quốc tế tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hội nghị Tư lệnh Lực lượng Quốc phòng các nước ASEAN (ACDFIM)

Khu Kinh tế Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Tùy viên Quốc phòng[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 3 năm 2009, có hơn 20 quốc gia [92] mà Việt Nam cử Tùy viên Quốc phòng hoạt động tại đó cụ thể như sau:

Bộ trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Thứ trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, NXB Quân đội Nhân dân, HN, 2004.
  • 60 năm Quân đội Nhân dân Việt Nam - Biên niên sự kiện, NXB Quân đội Nhân dân, HN, 2004.
  • Lịch sử Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tập 1 và Tập 2, NXB Quân đội Nhân dân, HN, 1994.
  • Lịch sử Quân sự Việt Nam, 14 Tập, NXB Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, HN, 2011.
  • Lịch sử Công tác Đảng, công tác chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, NXB Quân đội Nhân dân, HN, 2002.
  • Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), NXB Quân đội Nhân dân, HN, 2014.
  • Lịch sử Tổng cục Chính trị (1944-2014), NXB Quân đội Nhân dân, HN, 2014.
  • Lịch sử Bộ Tổng Tham mưu trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954), NXB Quân đội Nhân dân, HN, 2015.
  • Bộ Tổng Tham mưu những năm chiến đấu trong vòng vây, NXB Chính trị Quốc gia, HN, 2011.
  • Lịch sử Đảng bộ Quân đội Nhân dân Việt Nam Tập 1, Tập 2, Tập 3, NXB Quân đội Nhân dân, HN 2009, 2010, 2011.
  • Lịch sử Quân giới Việt Nam (1954-1975), NXB Quân đội Nhân dân, HN, 1995.
  • Lịch sử Hải quân Nhân dân Việt nam, NXB Quân đội Nhân dân, HN, 2007.
  • Lịch sử Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn-đường Hồ Chí Minh, NXB Quân đội Nhân dân, HN, 1999.
  • Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, NXB Chính trị Quốc gia, HN, 1996.
  • Những vị tướng lừng danh trong Lịch sử dân tộc, NXB Quân đội Nhân dân, HN, 2014.
  • Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước-Thắng lợi và bài học, NXB Chính trị quốc gia, HN, 1995.
  • Lịch sử Công tác đảng, công tác chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, HN, 2002.
  • Biên niên sự kiện lịch sử Hậu cần Quân đội nhân dân Việt Nam 1954-1975, NXB Quân đội nhân dân, HN, 1992.
  • Việt Nam những sự kiện 1945-1986, NXB Khoa học xã hội, HN, 1990.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Luật Quốc phòng năm 2005”. 
  2. ^ Quốc dân đại hội Tân Trào (8-1945)
  3. ^ Chính phủ lâm thời ra mắt Quốc dân đồng bào ngày 2-9-1945
  4. ^ "40 năm chiến đấu và trưởng thành của Bộ Tổng Tham mưu", Tạp chí QĐND số tháng 9 năm 1985, trang 17.
  5. ^ Trần Trọng Trung, Bộ Tổng tham mưu những năm chiến đấu trong vòng vây, NXB Chính trị quốc gia, 2011. Chương I: Những ngày trứng nước
  6. ^ "Lịch sử Bộ Tổng tham mưu trong cuộc Kháng chiến chống Pháp (1945-1954)", Hà Nội, 1991
  7. ^ Chính phủ liên hiệp kháng chiến (thành lập ngày 2-3-1946)
  8. ^ Sắc lệnh số 34 1946
  9. ^ Sắc lệnh số 35 1946
  10. ^ “Sắc lệnh 60 năm 1946”. 
  11. ^ “Giới thiệu chung Binh chủng pháo binh”. 
  12. ^ a ă “Tên gọi qua các thời kỳ”. 
  13. ^ “Sắc lệnh 230 năm 1946”. 
  14. ^ a ă â b “Thông qua hiến pháp”. 
  15. ^ “Giới thiệu chung Quân khu 7”. 
  16. ^ “Lịch sử thành lập, chiến đấu và trưởng thành của LLVT Quân khu 9”. 
  17. ^ “Chủ động tiến công, phát động toàn quốc kháng chiến (19-12-1946)”. 
  18. ^ “Sắc lệnh 47 năm 1947”. 
  19. ^ “Sắc lệnh 90 năm 1947”. 
  20. ^ “Sắc lệnh 236 ngày 5/8/1947”. 
  21. ^ “Sắc lệnh 165 năm 1948”. 
  22. ^ “Truyền thống 50 năm Quân chủng phòng không- không quân”. 
  23. ^ “Giới thiệu Học viện Quân y”. 
  24. ^ “Sắc lệnh 14 năm 1949”. 
  25. ^ “Sắc lệnh 50/SL ngày 18/6/1949 tổ chức của Bộ Quốc phòng”. 
  26. ^ “Sắc lệnh 121 năm 1950”. 
  27. ^ a ă â b c d “Về tổ chức của BQP”. 
  28. ^ “Lịch sử hình thành và phát triển Bệnh viện Trung ương Quân đội 108”. 
  29. ^ “Giới thiệu Học viện Hậu cần”. 
  30. ^ “Học viện Chính trị cần tự xây dựng mình vững mạnh về chính trị”. 
  31. ^ “Sắc lệnh 221 năm 1955”. 
  32. ^ “Cuộc giáng trả đanh thép của Quân chủng Hải quân Việt Nam 40 năm trước”. 
  33. ^ a ă “SẮC LỆNH 60 ngày 10/4/1958”. 
  34. ^ a ă “Đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển khoa học quân sự đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới”. 
  35. ^ a ă â b c “Quá trình hình thành và phát triển BCHC”. 
  36. ^ a ă â b c “Quá trình hình thành và phát triển Bộ đội Biên phòng”. 
  37. ^ “Cục Chính trị Bộ đội Biên phòng 50 năm xây dựng và trưởng thành”. 
  38. ^ “TÓM TẮT LỊCH SỬ BỘ ĐỘI TRƯỜNG SƠN”. 
  39. ^ a ă “Trường sĩ quan lục quân 2: Đơn vị “Trung dũng, sáng tạo, đoàn kết, kỷ luật, dạy tốt, học tốt””. 
  40. ^ a ă “Bộ Chỉ huy Miền hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chống Mỹ”. 
  41. ^ a ă “Cục Đối ngoại Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập và đón nhận Huân chương Quân công hạng Nhất”. 
  42. ^ a ă â “Giới thiệu chung BCTTG”. 
  43. ^ a ă â b c “ĐẠI HỌC KỸ THUẬT LÊ QUÝ ĐÔN”. 
  44. ^ “Giới thiệu chung Binh chủng Đặc công”. 
  45. ^ “Nâng cao hiệu quả công tác tiêu chuẩn, đo lường, bảo đảm chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật của quân đội”. 
  46. ^ “Người vun đắp truyền thống “Thần tốc - Quyết thắng” của Quân đoàn 1”. 
  47. ^ a ă â “Quân đoàn 2 - “Thần tốc, táo bạo, quyết thắng””. 
  48. ^ Lịch sử Tổng cục Kỹ thuật (1974-2014), NXB Quân đội Nhân dân, HN, 2014, trang 13-14.
  49. ^ “Cục Kế hoạch và Đầu tư đón nhận Huân chương Quân công hạng Ba”. 
  50. ^ a ă â “Quân đoàn 3 - “Quyết thắng, sáng tạo, đoàn kết, thống nhất, nghiêm túc, tự lực””. 
  51. ^ a ă “Quân đoàn 4 - “Trung thành, đoàn kết, anh dũng, sáng tạo, tự lực, quyết thắng””. 
  52. ^ “Lịch Sử Hình Thành Và Phát Triển Bệnh Viện 175”. 
  53. ^ “Bộ Tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh được thành lập, vừa xây dựng, vừa trưởng thành, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị đặc biệt (1975-1991)”. 
  54. ^ “VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN QUÂN ĐỘI”. 
  55. ^ “Giới thiệu chung TCT319”. 
  56. ^ “Kỷ niệm 30 năm Ngày truyền thống Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (28-5-1981 - 28-5-2011)”. 
  57. ^ a ă â b c “GIỚI THIỆU CHUNG TCT Thành An”. 
  58. ^ a ă “Viện Quan hệ Quốc tế về Quốc phòng với công tác đối ngoại quốc phòng trong thời kỳ mới”. 
  59. ^ Quy định số 50-QĐ/TW ngày 21/11/2011 về tổ chức cơ quan chính trị trong quân đội nhân dân việt nam
  60. ^ “Bảo hiểm xã hội Bộ Quốc phòng - Bước tiến mới trong quản lý Quốc phòng hiện nay”. 
  61. ^ “Tuyên bố Chủ tịch Hội nghị ADMM+ lần thứ nhất”. 
  62. ^ “ADMM+: 3 năm nhìn lại”. 
  63. ^ “ADMM+: Một cấu trúc khu vực mới”. 
  64. ^ “Quốc phòng Việt Nam phát triển như thế nào trước những thách thức mới?”. 
  65. ^ “Việt Nam thêm lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc”. 
  66. ^ “Bộ Quốc phòng tổ chức Lễ thành lập Trung tâm gìn giữ hòa bình Việt Nam”. 
  67. ^ “Đối thoại Chính sách Quốc phòng Việt Nam-Hoa Kỳ năm 2014”. 
  68. ^ “Đối thoại quốc phòng Việt Nam - Ấn Độ lần thứ 9”. 
  69. ^ “Việt Nam-Israel ký kết thỏa thuận hợp tác quốc phòng”. 
  70. ^ “Đại tướng Phùng Quang Thanh kết thúc tốt đẹp chuyến đi dự ADMM-9 và khai mạc LIMA 2015”. 
  71. ^ “Khai trương “Cổng Thông tin điện tử Ngành Chính sách Quân đội””. 
  72. ^ “Bảng xếp hạng quân đội thế giới - Theo Globalfirepower”. 
  73. ^ “Giới thiệu Quân đội Nhân dan Việt Nam”. 
  74. ^ Dựa trên sự ước lượng từ các đơn vị trực thuộc năm 2014
  75. ^ a ă â b “Công bố Ngân sách Quốc phòng Việt Nam”. 
  76. ^ a ă “Vì sao ngân sách quốc phòng VN tăng”. 
  77. ^ “BXH Quân sự Thế giới Theo globalfirepower”. 
  78. ^ “Việt Nam chi bao nhiêu cho quốc phòng 5/2014,Báo Zing.vn”. 
  79. ^ “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 1998”. 
  80. ^ “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2004”. 
  81. ^ “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2009, Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng”. 
  82. ^ a ă â b c d đ e ê Theo Sách trắng Quốc phòng của Việt Nam năm 2009
  83. ^ a ă â b c d đ e ê “Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2009”. 
  84. ^ “Quân ủy TW: Đẩy mạnh 3 khâu đột phá trong năm 2015”. 
  85. ^ http://vneconomy.vn/doanh-nhan/25000-nhan-vien-viettel-thu-nhap-binh-quan-237-trieu-dongthe
  86. ^ “Phong trào Thi đua quyết thắng ở Binh đoàn 15 - Truyền hình Gia Lai”. Truyền hình Gia Lai. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015. 
  87. ^ “Binh đoàn 16 vững vàng trên dải đất biên giới Tây Nam”. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015. 
  88. ^ “Tổng công ty Đông Bắc: Doanh nghiệp điển hình làm theo lời Bác”. Báo điện tử Diễn đàn Doanh Nghiệp. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015. 
  89. ^ “Mô hình mới trong quản lý các doanh nghiệp quân đội”. Báo Điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015. 
  90. ^ “MBB”. Truy cập 17 tháng 2 năm 2015. 
  91. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Theo Sách trắng Quốc phòng năm 2009, trang 112
  92. ^ “Tuỳ viên Quốc phòng Việt Nam tại nước ngoài (tính đến tháng 3 năm 2009)”.