Bộ Tài nguyên và Môi trường (Việt Nam)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
 
Hoạt động Quản lý nhà nước về Tài NguyênMôi Trường
 
Bộ trưởng Nguyễn Minh Quang
Thứ trưởng Nguyễn Mạnh Hiển
Nguyễn Thái Lai
Chu Phạm Ngọc Hiển
Nguyễn Linh Ngọc
Bùi Cách Tuyến
Trần Hồng Hà
Địa chỉ 10. Tôn Thất Thuyết, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Web http://www.monre.gov.vn


Bộ Tài nguyên và Môi trường được thành lập trên cơ sở hợp nhất các đơn vị Tổng cục Địa chính, Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, Cục Môi trường (Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường), Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam và Viện Địa chất và Khoáng sản (Bộ Công nghiệp) và bộ phận quản lý tài nguyên nước thuộc Cục quản lý nước và công trình thuỷ lợi (Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn).

Lược sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 5 tháng 8 năm 2002 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ nhất thông qua Nghị quyết số 02/2002/QH11 thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Ngày 11 tháng 11 năm 2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 91/2002/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Tháng 12 năm 2002 Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo các đơn vị trực thuộc
  • Ngày 04 tháng 3 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 25/2008/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Nghị định này thay thế Nghị định số 91/2002/NĐ-CP.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ trưởng
Nguyễn Minh Quang: Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nguyên Phó chủ tịch Tỉnh Lai Châu, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu. Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương.
Thứ trưởng thường trực

Trần Hồng Hà: Ủy viên Dự khuyết TW.Phó Bí thư Đảng ủy khối TW.

Các Thứ trưởng
  1. Nguyễn Mạnh Hiển
  2. Nguyễn Thái Lai
  3. Chu Phạm Ngọc Hiển
  4. Bùi Cách Tuyến
  5. Nguyễn Linh Ngọc

Các Tổng cục và Cục[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Quyết định số 132/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định Tổng cục Môi trường thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý nhà nước về môi trường và thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật. Tổng cục Môi trường được thành lập dựa trên 3 đầu mối: Vụ Môi trường, Vụ Thẩm định và Đánh giá tác động môi trường, Cục Bảo vệ môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Tổng cục Môi trường được giao 18 nhiệm vụ và quyền hạn, trong đó có những nhiệm vụ chuyên môn đặc thù như: Kiểm soát ô nhiễm; quản lý chất thải và cải thiện môi trường; bảo tồn đa dạng sinh học; bảo vệ môi trường lưu vực sông, vùng ven biển; thẩm định và đánh giá tác động môi trường; quan trắc và thông tin môi trường...

Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Môi trường có 10 đơn vị hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và có 2 đơn vị sự nghiệp trực thuộc (Trung tâm quan trắc môi trường, Viện Khoa học quản lý môi trường).

Các đơn vị trực thuộc của Tổng cục Môi trường gồm: Cục thẩm định và đánh giá tác động môi trường, Cục Kiểm soát ô nhiễm, Cục Quản lý Chất thải và Cải thiện Môi trường, Cục Bản tồn và đa dạng sinh học, Văn phòng, Vụ Tổ chức, Vụ Kế hoạch Tài chính, Vụ Chính sách Pháp chế, Vụ hợp tác quốc tế và khoa học công nghệ, Thanh tra, Trung tâm Quan trắc Môi trường, Viện Khoa học Quản lý Môi trường. Lãnh đạo của Tổng cục Môi trường có Tổng cục trưởng và không quá 3 Phó Tổng cục trưởng.

Thứ trưởng kiêm Tổng cục trưởng: Bùi Cách Tuyến.

Các Phó Tổng cục trưởng: Lê Kế Sơn, Nguyễn Thế Đồng, Hoàng Dương Tùng

Tổng cục trưởng ông Nguyễn Thành Minh

Các Phó Tổng cục trưởng: Phạm Ngọc Sơn, Vũ Sỹ Tuấn

Nhiệm vụ của Tổng cục: Tham gia xây dựng chiến lược, chính sách về quốc phòng, an ninh, ngoại giao liên quan đến chủ quyền, quyền chủ quyền và các quyền tài phán Quốc gia của Việt Nam trên biển và hải đảo; Tham gia đàm phán về các điều ước, thỏa thuận quốc tế về biển, hải đảo, đại dương và tổ chức thực hiện theo phân công hoặc ủy quyền của Bộ trưởng Bộ TN&MT; Tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án khảo sát, thăm dò, nghiên cứu khoa học biển, hải đảo và đại dương sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Tham gia thẩm định các dự án khảo sát, thăm dò tài nguyên dưới đáy biển theo phân công của Bộ trưởng Bộ TN&MT...

Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam có 6 đơn vị hành chính giúp Tổng cục trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 5 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục.

Theo Quyết định số 134/2008/QĐ-TTg, Tổng cục Quản lý đất đai thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quản lý nhà nước về đất đai trong phạm vi cả nước và thực hiện các dịch vụ công theo quy định của pháp luật.

Với 18 nhiệm vụ và quyền hạn, Tổng cục Quản lý đất đai có trách nhiệm trong việc quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đăng ký và thống kê đất đai; quản lý về giá đất; bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; phát triển quỹ đất, quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản; lưu trữ và thông tin đất đai và thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.

Về cơ cấu tổ chức, Tổng cục Quản lý đất đai có 9 đơn vị hành chính thực hiện chức năng quản lý nhà nước và 5 đơn vị sự nghiệp nhà nước trực thuộc (Trung tâm Lưu trữ và Thông tin đất đai, Trung tâm Điều tra, Đánh giá tài nguyên đất, Viện nghiên cứu quản lý đất đai, Trung tâm Kiểm định sản phẩm chất lượng địa chính, Trung tâm Đào tạo và Truyền thông đất đai, Trung tâm Công nghệ, Dịch vụ và cơ sở dữ liệu đất đai).

Lãnh đạo của Tổng cục Quản lý đất đai có Tổng cục trưởng và không quá 3 Phó Tổng cục trưởng. Thứ trưởng kiêm Tổng cục trưởng: Nguyễn Mạnh Hiển. Các Phó Tổng cục trưởng: Lê Thanh Khuyến, Đào Trung Chính, Lê Văn Lịch.

  • Tổng cục Địa chất và Khoáng sản có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện quản lý nhà nước về khoáng sản, địa chất; tổ chức thực hiện điều tra cơ bản địa chất, điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản, phát hiện mỏ; thăm dò khoáng sản trên phạm vi cả nước. Tổng cục được thành lập tháng 8 năm 2010 theo Nghị định 89/2010/NĐ - CP của Chính phủ trên cơ sở tổ chức bộ máy của Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam.

Tổng cục trưởng: Nguyễn Văn Thuấn.

Các Phó Tổng cục trưởng:

  1. Nguyễn Quang Hưng.
  2. Bùi Vĩnh Kiên
  3. Đỗ Cảnh Dương

Hiện nay Cục Công nghệ thông tin thực hiện chức năng, nhiệm vụ mới theo Quyết định số 1495/QĐ-TNMT ngày 28 thàng 7 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, với chức năng quản lý nhà nước trong ngành về ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin; Lưu trữ, bảo quản thông tin; Thực hiện các dịch vụ công về công nghệ thông tin. Cơ cấu bộ máy tổ chức của Cục đang triển khai hoàn thiện bao gồm: Các đơn vị quản lý nhà nước: Phòng quản lý hoạt động công nghệ thông tin, Phòng hệ thống thông tin, Phòng Kế hoạch – Tài chính, Phòng Khoa học, công nghệ và Hợp tác quốc tế, Phòng Pháp chế, Văn phòng Cục, Chi nhánh Cục Công nghệ thông tin tại TP. Hồ Chí Minh. Các đơn vị sự nghiệp: Trung tâm chuyển giao công nghệ, Trung tâm Công nghệ phần mềm và GIS, Trung tâm Lưu trữ và Dịch vụ thông tin TNMT, Trung tâm cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, Trung tâm Kiểm định sản phẩm CNTT, Trung tâm Thông tin điện tử, Trung tâm ứng dụng CNTT phía Nam. Cục trưởng: Nguyễn Hữu Chính.

Các vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vụ Pháp chế
  • Vụ Khoa học và Công nghệ
  • Vụ Hợp tác Quốc tế
  • Vụ Kế hoạch
  • Vụ Tài chính
  • Vụ Tổ chức cán bộ
  • Vụ Thi đua - Khen thưởng

Trung tâm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trung tâm KTTV Quốc gia
  • Trung tâm Qui hoạch tài nguyên nước

Nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ Tài nguyên và Môi trường được Chính phủ giao nhiệm vụ thường trực Hội đồng Quốc gia về tài nguyên nước, Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản, Ban Chỉ đạo quốc gia về khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam, Ban chỉ đạo Quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]