Bộ Yến

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bộ Yến
Rubythroathummer65.jpg
Chim ruồi họng đỏ
Phân loại khoa học
Vực (domain) Eukaryota
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum)

Chordata

(không phân hạng) Craniata
Phân ngành (subphylum) Vertebrata
Cận ngành (infraphylum) Gnathostomata
Liên lớp (superclass) Tetrapoda
Lớp (class) Aves
Phân lớp (subclass) Neornithes
Cận lớp (infraclass) Neoaves
(không phân hạng) Cypselomorphae
Bộ (ordo) Apodiformes
Peters, 1940
Các họ

Apodidae
Hemiprocnidae
Trochilidae

Các dạng hóa thạch, xem văn bản

Bộ Yến (danh pháp khoa học: Apodiformes) là một bộ chim theo truyền thống bao gồm 3 họ: họ Yến (Apodidae), họ Yến mào (Hemiprocnidae) và họ Chim ruồi (Trochilidae). Trong phân loại Sibley-Ahlquist, bộ này được nâng cấp lên thành siêu bộ Apodimorphae trong đó nhóm các loài chim ruồi được tách ra như một bộ riêng biệt, gọi là Trochiliformes, nhưng tại đây thì miêu tả truyền thống được tuân theo. Với gần 450 loài đã được nhận dạng cho tới nay, bộ này là bộ chim đa dạng hàng thứ hai, chỉ sau bộ Sẻ (Passeriformes).

Như tên gọi khoa học của nó (nghĩa là "không chân") gợi ý, các chân của chúng nhỏ và chỉ có các chức năng hạn chế ngoài việc hỗ trợ việc đậu trên cây. Các chân của chúng được phủ bằng lớp da trần chứ không phải bằng vảy như ở các nhóm chim khác. Đặc trưng chia sẻ khác là các cánh dài hình lưỡi liềm với các xương cánh to và ngắn[1]. Sự tiến hóa các đặc trưng này của cánh làm cho các dạng chim trong bộ Yến có cánh lý tưởng cho việc bay lơ lửng [2].

Chim ruồi, yến và yến mào cũng chia sẻ các đặc trưng giải phẫu tương tự khác. Chúng cũng có các tương đồng (đáng chú ý là hộp sọ) với các họ hàng gần gũi nhất (có thể) còn sinh tồn là cú muỗi châu Đại Dương (bộ Aegotheliformes) [2]. Nhóm cú muỗi châu Đại Dương dường như tiến hóa hội tụ với bộ Cú muỗi (Caprimulgiformes), có quan hệ họ hàng gần gũi nhất với nó và cùng nhau kết hợp với bộ Apodiformes để tạo thành nhánh tiến hóa gọi là Cypselomorphae [2].

Bộ Apodiformes đã tiến hóa tại Bắc bán cầu. Eocypselus, chi nguyên thủy được biết đến từ Hậu Paleocen hay Tiền Eocen ở miền bắc-trung châu Âu, là hơi khó để gán vị trí; Dyke và ctv. (2004)[3] coi nó là dạng yến mào nguyên thủy[4]. nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu khác lại tin rằng hiện tại chi này không thể gán vào bộ Apodiformes hay bộ Caprimulgiformes mà không bị nghi vấn. Chi Primapus thời kỳ Tiền Eocen, tìm thấy ở Anh, là tương tự như cả yến nguyên thủy lẫn chim họ Aegialornithidae, là dạng chim trong một số khía cạnh là trung gian giữa chim dạng yến và chim dạng cú muỗi châu Đại Dương. Các dạng yến hóa thạch được biết là tồn tại từ thời gian này ở châu Âu[5], và chim họ Aegialornithidae rất có thể là tồn tại ở Bắc Mỹ[6]. Vào Hậu Eocen (khoảng 35 Ma), chim ruồi nguyên thủy đã bắt đầu rẽ ra từ họ Jungornithidae có quan hệ họ hàng; Các hóa thạch của chi Parargornis Trung Eocen (Messel, Đức) và chi Argornis Hậu Eocen, được tìm thấy ở khu vực phía nam của Nga ngày nay, thuộc về dòng dõi này. Chi Cypselavus (Hậu Eocen – Tiền Oligocen ở Quercy, Pháp) hoặc là dạng yến mào nguyên thủy hoặc là thuộc họ Aegialornithidae.

Vị trí của họ Aegialornithidae là hoàn toàn không rõ ràng. Các phân tích khác nhau đặt chúng đủ gần với bộ Apodiformes để có thể gộp vào nó như ở đây, hoặc vào trong dòng dõi duy nhất chứa cú muỗi châu Đại Dương trong nhánh tiến hóa Cypselomorphae.

BỘ APODIFORMES

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hyman Libbie Henrietta (1992). Hyman's Comparative Vertebrate Anatomy. Chicago: Nhà in Đại học Chicago, trang 39. ISBN 0-226-87013-8
  2. ^ a ă â Mayr Gerald (2002): Osteological evidence for paraphyly of the avian order Caprimulgiformes (nightjars and allies). Journal für Ornithologie 143: 82–97. toàn văn PDF
  3. ^ Dyke Gareth J.; Waterhouse David M. & Kristoffersen Anette M. (2004): Three new fossil landbirds from the early Paleogene of Denmark. Bulletin of the Geological Society of Denmark 51: 47–56. toàn văn PDF
  4. ^ Điều này gợi ý rằng các dòng dõi chính dạng yến đã phân nhánh ngay sau khi có ranh giới K–T. Trong khi nếu điều này là hoàn toàn có thể thì khả năng thích ứng với việc đậu trên cây của chân các loài chi Eocypselus cũng có thế chỉ là đặc trưng chia sẻ xa với các nhóm khác có cùng tổ tiên chung.
  5. ^ Vào thời gian đó, phần lớn châu Âu có khí hậu cận nhiệt đới ẩm ướt, có thể tương tự như khí hậu ở miền nam Trung Quốc hiện nay. Để có bản đồ Trái Đất thời kỳ Tiền–Trung Eocen, xem tại đây; lưu ý rằng cả dãy núi Kavkaz lẫn Alps vẫn chưa tồn tại.
  6. ^ Hơi bị nghi vấn, do như thế khó hòa hợp với các hóa thạch khác của họ Aegialornithidae khác và Primapus.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mayr Gerald (2003): Phylogeny of early tertiary swifts and hummingbirds (Aves: Apodiformes). Auk 120(1): 145–151. DOI: DOI: 10.1642/0004-8038(2003)120[0145:POETSA]2.0.CO;2 toàn văn PDF