B40

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
RPG-2 (hay B40) đã lắp đạn và đạn PG-2 chưa lắp liều
RPG-2 (hay B40) chưa lắp đạn và đạn PG-2 đã lắp liều
B40 đã lắp đạn PG-2
Nguyên lý nổ lõm góc rộng

RPG-2 là một loại súng chống tăng không giật dùng cá nhân, còn được gọi tại Việt NamB40. Loại súng này được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Việt Nam, sau đó dần dần thay bằng đời sau RPG-7 (hay phiên bản B41 của Việt Nam).

Trong tiếng Nga súng này có tên là ручной противотанковый гранатомёт, viết tắt là RPG-2 (РПГ-2), có nghĩa là "phóng lựu chống tăng phản lực". Phương tây thường dùng thuật ngữ anti tank rocket launcher (có nghĩa là "súng phóng rốc két /tên lửa chống tăng") cho súng này, tuy rằng ở B40 phần "tên lửa" rất yếu, chỉ là cái ngòi.

Trên Internet thường có một vài điểm nhầm lẫn về phiên bản do Việt Nam sản xuất. Vì các trang Wikipedia và các trang web khác dịch lẫn của nhau nên đã dẫn đến lan truyền của các sự sai lầm sau đây:

  1. Súng có ký hiệu là B-40. Thực chất, tên tiếng Việt của súng này là "bazooka 40 mm" nên được viết tắt là B40. Gọi là "bazooka" vì cùng loại với loại súng chống tăng tự chế rất nổi tiếng trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Nguyên mẫu khẩu súng trong Chiến tranh Đông Dương là 2 khẩu bazooka 1944 của MỹOSS gửi cho Việt Minh.
  2. Việt Nam có hai phiên bản là B-40 và B-50. Vì B40 có thể bắn phiên bản đạn PG-2 của Trung Quốc có tên "Kiểu 50"' (hay "kiểu đạn 1950", một cách đặt tên vũ khí thông dụng), cùng với những bí mật của chiến tranh, nên đã tạo ra những mập mờ mà nhiều cơ quan tình báo lớn cũng tin rằng có một phiên bản B-50 thật sự.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiến sỹ Quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam đang bắn B40 trong chiến dịch Tết Mậu Thân 1968.

RPG-2 được phát triển ở Nga sau Thế chiến thứ hai. Trước và trong chiến tranh, kỹ thuật của người Nga không chế được những súng chống tăng vác vai nhỏ gọn hiệu quả. Trước chiến tranh, người Nga phát triển hai loại vũ khí phản lực, một là giàn tên lửa bắn đạn trái phá BM-13 Katyusha nổi tiếng, hai là Model 1935 76 mm DRP, sau này trở thành các súng lớn chống tăng không giật, ngoài ra có lựu đạn lõm chống tăng. Nhưng kiểu súng chống tăng cá nhân lại không có.

Kinh nghiệm chiến trường cho thấy các Panzerfaust của Đức rất đắc dụng. Người Nga dựa vào mẫu một loại vũ khí phổ biến của Đức là Panzerfaust 44 để chế lại với tên mới là RPG. Phiên bản RPG-1 tồn tại rất ngắn, gần như giống hệt Panzerfaust 44. RPG-2 bắt đầu được trang bị năm 1949.

Súng này vào Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hóa quân đội sau 1954. Nó nhanh chóng tỏ ưu thế trước khẩu Bazooka kiểu 1944 cũ do Mỹ tự chế, được chấp nhận trang bị với tên B40. Khẩu súng được tôn trọng phần vì nó sẽ thừa kế kinh nghiệm đối phó với hỏa lực mạnh của địch bằng đánh gần, nối tiếp của Bazooka.

Trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

RPG-2 được thiết kế năm 1947, dến năm 1949 thì trang bị rộng rãi trong Quân đội Liên Xô, đến năm 1959 thì dừng trang bị, thay bởi RPG-7. RPG-2 được sử dụng và chế tạo rất rộng rãi, không thể tính hết được những nước đã sản xuất lậu hay có văn bằng, giống hệt hay hơi khác, cũng không thể tính được số lượng sản xuất vì súng rất dễ chế tạo. Súng được trang bị chính thức trong tất cả các nước dùng vũ khí Liên Xô trước đây. Ở một vài nước đến nay vẫn trang bị. Ở Việt Nam, súng này được trang bị với số lượng rất lớn trong thập niên 1960, thông thường, mỗi tiểu đội có một khẩu. Đến cuối Chiến tranh Việt Nam, Quân đội Nhân dân Việt Nam dùng chủ yếu súng B41. Triều Tiên, Trung Quốc là những nước đầu tiên dùng RPG-2 trong chiến tranh, sau đó đến Việt Nam, Cuba, Ai Cập, Syria. Sau này, súng này tham gia vào rất nhiều cuộc chiến tranh và xung đột ở châu Âu, châu Á, châu Phi, châu Mỹ. Tuy nhiên, chưa bao giờ tham chiến ở Liên Xô, quê hương của nó.

Trong thời Chiến tranh Việt Nam, súng B40 có mặt trong thời kỳ khó khăn nhất, thập niên 1960. Ngày đó, nó là khẩu súng chủ lực để diệt xe cộ, công sự. Những chiến thắng đầu tiên tại Ấp Bắc, Vạn Tường[1][2] đã thể hiện tính năng của súng: khẩu súng của đội quân nghèo, mang nhẹ, ít lực lượng... đánh thắng địch đông và nhiều xe pháo.

Trong Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam còn nhiều súng B40 và B41 do Việt Nam sản xuất.

Một số tên khác nhau[sửa | sửa mã nguồn]

Các kiểu súng sau đây không khác nhau nhiều, đều bắn được đạn của nhau, thực chất là một súng.

  • RPG-2 - Nga, bắn đạn PG-2 HEAT
  • Kiểu 56 - Trung Quốc, bắn đạn Kiểu 50 HEAT. Trung Quốc còn có loại súng lai, súng giống B41 nhưng bắn đạn B40.
  • PG-7 - Ai Cập
  • B40 - Việt Nam. Người nước ngoài cho rằng súng B40 bắn đạn B50 HEAT, nhưng ở Việt Nam đều gọi súng đạn là B40

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Súng[sửa | sửa mã nguồn]

B40 chỉ là một ống mỏng nhẹ dài nhẵn đường kính trong 40 mm. Phía trên ống có thước ngắmđầu ruồi gập lại được, đỡ vướng khi vận chuyển, dựng lên khí ngắm bắn. Thước ngắm chỉ có 3 mức, xa nhất 150 mét, các mức thước ngắm là các thanh ngang đặt cố định như chiếc thang. Đạn B40 gồm 2 phần, đầu đạnliều phóng. Trước khi lắp đạn vào súng phải lắp liều phóng vào đạn. Phần cổ đạn có đinh dễ định vị, khi lắp đặt đinh vao vết lõm miệng nòng súng. Súng bắn bằng tư thế vác vai, một tay nắm nòng súng, một tay nắm tay cầm. Tầm bắn 150 mét, nhiều người cho rằng bắn mục tiêu di động chỉ 100 mét, nhưng trên thực tế, súng bắn rất chính xác, một phần do tên lửa chưa đóng góp nhiều vào chuyển động của đạn.

Đạn[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ đồ đạn PG-2
Đạn PzF 44 Lanz
Đạn PG-2 vừa lấy ra khỏi hộp, ống liều chưa lắp, các cánh ổn định buộc bằng một cái vòng

Đầu đạn xuyên giáp kiểu liều nổ lõm góc mở rộng, kiểu này nay ít dùng vì sức xuyên so với giáp hiện nay yếu. Nhưng thời Chiến tranh Việt Nam đây là kiểu đầu lõm hiệu quả, sức xuyên ít giảm theo góc chạm, tăng xác suất diệt mục tiêu. Loại đầu đạn này có góc lõm lớn, hội tụ sóng xung kích vào tiêu điểm ở tâm trục dầu đạn. Người ta lót một tấm kim loại nặng ở mặt lõm, tấm này gọi là tấm tích năng lượng, nó tăng tốc độ đến vài km/s xuyên qua giáp, ở B40 làm bằng đồng, sức xuyên 180 mm thép cán. Súng chỉ bắn một loại đạn xuyên PG-2 (PG là đầu nổ chống tăng). Một phần nhờ kiểu góc mở rộng này mà B40 lập rất nhiều chiến công, nó cùng với B41, ĐKZ-82 mm, ĐKZ-73 mm tạo thành nhóm súng diệt nhiều xe cộ nhất sau Thế chiến thứ hai.

Đầu đạn được kích nổ bằng ngòi chạm nổ quán tính, ngòi đặt ở phần cổ đạn. Khi đạn đập vào mục tiêu dừng lại, thì khối nặng của ngòi lao vào hạt nổ.

Lắp đạn và liều[sửa | sửa mã nguồn]

Liều bọc trong ống giấy chống ẩm. Tiếng nổ danh vì B40 sử dụng thuật phóng đơn giản của các Panzerfaust, sử dụng thuốc nổ đen cháy nhanh, áp suất và tốc độ dòng khí tăng rất nhanh. Sau khi lắp liều vào đầu đạn, vuốt các cánh đàn hồi cho cuộn quanh ống đuôi, nhét đạn vào súng, quay cho đúng vị trí đinh khớp, đến đây đạn nằm chặt trong súng. Ban đầu, dạn có sẵn một đai quấn các cánh đuôi, đai này tự động trượt về trước đầu đạn khi nhồi đạn vào súng, không phải thực hiện động tác vuốt cánh đuôi. Khi quay đầu đạn trong nòng phải quay theo chiều kim đồng hồ, nếu ngược lại các cánh đuôi giãn ra rất chặt.

Sau khi bắn, 6 cánh ổn định đàn hồi xòe ra.

Ngòi nổ[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn có một ngòi quán tính. Ngòi đập nổ hạt nổ, kích nổ trạm truyền nổ RDX rồi kích nổ liều chính.

Ngòi nổ đầu đạn B40 có thanh trụ nặng dài, bình thường khóa ở vị trí an toàn. Khi bắn, gia tốc lớn tiến về trước của đầu đạn làm thanh trụ phá khóa an toàn lùi về sau, chuyển sang chế độ sẵn sàng. Khi đập vào mục tiêu đạn bị hãm lại, thanh trụ tiến về trước đập nổ hạt nổ.

Đạn B40[sửa | sửa mã nguồn]

Đạn PG-2 chưa lắp liều

Tên: PG-2
Kiểu: HEAT (High Explosive Anti-Tank)
Nặng: 1,84 kg (4 lbs)
Dài: 67 cm (25,6 inches)
Đường kính lớn nhất: 80 mm
Số cánh: 6
Tốc độ tối đa: 84/s
Xuyên giáp: 180 mm thép cán (RHA)

Tên Nga là PG-2 HEAT (ПГ-2, đầu nổ chống tăng). Đạn còn có tên Kiểu 50 (Trung Quốc), một số nước ngoài gọi đạn Việt Nam là B50. Nhưng ở Việt Nam gọi súng và đạn đều bằng tên B40.

Bắn[sửa | sửa mã nguồn]

Lính Ba Lan chuẩn bị bắn B-40 (bắn có chỗ giá súng)
Nằm bắn
Đứng bắn
Cỡ nòng: 40 mm
Loại nòng: trơn mỏng
Cỡ đầu đạn: 80 mm
Chiều dài súng: 850 mm
Chiều dài đạn chưa lắp liều phóng: 500 mm
Chiều dài đạn đã lắp liều phóng: 670 mm
Chiều dài súng đã lắp đạn: 1200 mm
Khối lượng đạn có liều phóng: 2,86 kg
Khối lượng đạn không liều phóng: 1,84 kg
Khối lượng súng đã lắp đạn: 4,67 kg
Tốc độ cao nhất: 84 m/s
Tầm bắn: 150 m
Sức xuyên: 180 mm thép cán tiêu chuẩn (RHA)
Tốc độ bắn: 6 phát/ phút

Để bắn, xạ thủ lên cò bằng cách lấy ngón tay cái ấn búa sau tay cầm xuống. Khóa an toàn bấm ngang tay cầm. Khi bắn búa đập vào kim hỏa, kim hỏa xuyên qua một lỗ dưới súng. Kim hỏa có lò xo mạnh kéo về ngay lập tức sau khi chọc vào hạt nổ, không ảnh hưởng đến di chuyển của đạn trong nòng.

Súng có thể bắn ở một số tư thế: nằm, quỳ, đứng, tựa giá. Không bắn súng trong phòng, trong xe kín. Khi bắn, chỗ kim hỏa có một luồng phụt về bên phải, thoát khí hạt nổ. luồng phụt này yếu, nhưng để sát mắt có thể gây . Những người bóp cò tay trái cần bắn đúng yếu lĩnh, đặt súng tiến về phía trước, thước ngắm dựng đứng, ngắm từ trên súng.

Tiếng nổ của liều phóng đanh, rất khó chịu nhưng không nguy hiểm như B41, vì năng lượng của liều phóng thấp. Vì lý do đó, B40 bắn được tốc độ trung bình 6 phát phút, mỗi xạ thủ bắn được nhiều đạn.

Chiến thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Súng B40 rất rẻ, thậm chí rẻ hơn một viên đạn. Cả súng và đạn đều dễ sản xuất. Súng rất dễ sử dụng, có thể bắn nhanh, liên tục nhiều viên, không gây chấn động như B41. Súng cũng rất nhẹ và hiếm khi hỏng hóc. Đạn có thể mang theo nhiều. Người Việt Nam rất giỏi sử dụng súng bằng chiến thuật "bám thắt lưng", đánh rất gần, từ nhiều hướng, di chuyển liên tục, khắc phục tầm gần của súng. Thông thường một tiểu đội có một khẩu, nhưng trong những chiến dịch tấn công lớn dài ngày, người ta trang bị tăng cường 3 tổ trong tiểu đội mỗi tổ 1 khẩu. Bình thường, tiểu đội thành lập tổ hỏa lực mạnh gồm một B40 và một trung liên, đi kèm tiểu đội trưởng mang AK-47. Trong tất cả các trận đánh nổi tiếng của bộ binh, du kích Việt Nam hồi thập niên 1960 đều có mặt B40.

Liên Xô, khi súng còn đang trong biên chế, cách tổ chức hơi khác. Cách tổ chức này xuất phát từ việc Liên Xô không đưa B40 vào biên chế thường xuyên của bộ binh như Việt Nam, chỉ sử dụng trong những nhiệm vụ không thường xuyên. Tổ chiến đấu dùng B40 của Liên Xô có thể 2 hoặc 3 người, trong đó có 1-2 xạ thủ B40 và một cảnh giới. Mỗi xạ thủ mang 1 súng và 3 đạn dựng trong một túi. Cũng có thể mỗi xạ thủ mang thêm một khẩu AK-47. Cũng như Việt Nam, hai xạ thủ có thể thay nhau bắn đảm bảo an toàn, một xạ thủ vẫn có thể bắn được trong khi người kia nạp đạn.

Một số người thường mô tả sử dụng súng B40 hay B41 như tên lửa chống tăng AT-3. Tức gồm một tổ ba người có mang thêm đạn và cảnh giới. Thực chất, đây là tin đồn tưởng tượng, xây dựng từ tổ chiến đấu dùng AT-3, xuất hiện trong gắng gượng giải thích số lượng xe bị bắn hỏng quá lớn. B41 được sử dụng để bắn tầm gần, khi AT-3 không tác dụng. Tổ chiến đấu AT-3 có thể được một tổ bộ binh sao chép, gồm 3 người, mang 3 AK, một người mang thêm B41, một người mang thêm bao đạn B41. Tuy nhiên ở Việt Nam chiến thuật này không sử dụng với B40.

Hạn chế[sửa | sửa mã nguồn]

Súng B40 thuộc những thế hệ đầu tiên của súng phản lực chống tăng. Súng có thuật phóng đơn giản. Tốc độ bay của đầu đạn thấp. Đạn dễ bị chặn bởi các vật cản như lưới, bao cát, tường vách mỏng. Sức xuyên của súng cũng không thích hợp với ngày nay. Việc sử dụng lưới có từ năm 1945. Đạn B40 khi bắn vào lưới như dưới đây bị mắc lại và không kích nổ. Lưới là loại thường sử dụng trong xây dựng, đan bằng dây thép 3 mm trở lên, mắt lưới khoảng 60 mm trở xuống. Loại lưới hay dùng trong xây dựng cho đến nay ở Việt Nam vẫn gọi là "lưới B40".

Cơ chế bắn của súng làm đạn không quay được trong nòng. Thuật phóng dùng thuốc nổ đen làm áp suất tăng đột ngột, không thể nhồi nhiều thuốc phóng. Vì những lý do đó, súng không thể bắn chính xác hơn, việc tăng tầm cho súng là vô ích và cũng rất khó. Sau này, người ta hay sử dụng cơ chế "phản lực khí động" hoặc "bán khí động", làm đạn quay trong nòng bằng cánh quạt hay rãnh xoắn. Những điều đó làm cho kiểu súng này sớm được thay thế. Tuy cùng đi vào trang bị với AK-47 nhưng B40 có tuổi phục vụ rất ngắn.

Cấu tạo ngòi nổ quán tính quá đơn giản, nhiều hạn chế. Ví dụ, một trong những trận đấnh đầu tiên là trận Vạn Tường, có những phát bắn quan trọng không nổ.

Một số người nhầm lẫn, thường ghi tốc độ đầu nòng của súng là 84 hoặc 85 m/s (như các trang tại Wikipedia thường dịch lẫn của nhau), thật ra đây là tốc độ tối đa của đạn, quá chậm.

Về chiến thuật, súng bắn tầm rất gần, nhưng lại không bắn được từ phòng trong phòng, khi súng bắn tạo khói của thuốc nổ đen làm lộ vị trí. Những điều đó làm việc sử dụng B40 trở nên nguy hiểm.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • FM 100-2-3, The Soviet Army by Headquarters US Army, Washington D.C., 1984
  • The Poor Man's RPG, by George Dmitrieff, published by Desert Publications, El Dorado Arizona, 1996.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]