BTR-60

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
BTR-60
BTR-60
1 chiếc BTR-60P được trưng bày tại Yuzhno Sakhalinsk, Cộng hòa Liên bang Nga
Loại Xe lội nước
Nguồn gốc  Liên Xô
Lược sử hoạt động
Trang bị 13 tháng 12 năm 1959–nay
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế VA Dedkov
Năm thiết kế 1955
Nhà sản xuất Gorkovsky Avtomobilny Zavod (Liên Xô)
Giai đoạn sản xuất 1959
Số lượng chế tạo Khoảng 25.000
Thông số kỹ chiến thuật

Bọc giáp Thép hàn:7 mm tại 86 ° thân trên phía trước,9 mm tại 47 ° thân trên phía sau,7 mm thân bên,5 mm phía sau thân trước,7 mm phía sau thân sau

5 mm thân sàn 7 mm thân mái 10 mm phía trước tháp pháo 7 mm tháp pháo bên 7 mm tháp pháo sau 7 mm tháp pháo mái

Vũ khí chính Súng máy PK 7,62mm (3.000 viên đạn)
Động cơ Diesel 2 × 6 xi-lanh GAZ-40P xăng,90 hp (67 kW),180 hp (134 kW) (kết hợp)
240 mã lực (179 kW)
Công suất/trọng lượng 18,4 mã lực/tấn
Sức chứa nhiên liệu 290 lít
Tầm hoạt động 500 km
Tốc độ 80 km / h trên đường

10 km / h trên mặt nước

BTR-60 là một chiếc xe thiết giáp chở quân (APC) bánh lốp do Liên Xô chế tạo.Nó được chế tạo nhằm thay thế cho chiếc BTR-152 và bắt đầu phát triển từ năm 1950.BTR là viết tắt của Bronetransporter (БТР, Бронетранспортер, nghĩa là "bọc thép vận chuyển").[1]

Miêu tả và khả năng[sửa | sửa mã nguồn]

BTR-60 là loại xe bọc thép chở quân bánh lốp đầu tiên của Liên Xô có 8 bánh, mẫu xe này sau này chính là mẫu thiết kế các loại xe BTR-70, BTR-80, BTR-90 sau này, vì vậy mà chúng có hình dạng gần giống nhau. Nó có khả năng lội nước khá tốt nên thường được dùng để đổ bộ. Thân xe kín, hình hộp chữ nhật, bánh dạng lốp, có động cơ khá tốt, không chết máy giúp cho xe nổi trên mặt nước và di chuyển với tốc độ 10 km/h.[2] Xe không có cửa chính mà chỉ có các cửa sổ phụ, mỗi bên có khoảng 4 cửa như vậy, binh lính leo vào và leo ra khỏi xe qua các cửa này, ở tháp pháo còn có 1 cửa sổ nữa dành cho pháo thủ. Lính trong xe có thể sử dụng vũ khí bộ binh như AK-47, AKM bắn ra bên ngoài. BTR-60 được trang bị một súng máy đa chức năng PKT hoặc PKM 7,62mm với 3000 viên, các mẫu sau này còn có thể trang bị đại liên 12,7 mm hoặc 14,5 mm.

BTR-60 của Ba Lan

Bọc giáp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Độ dày của giáp là như sau :
  • Mái phía trước: 7 mm tại góc 86 °
  • Gầm phía trước: 9 mm tại góc 47 °
  • Bên: 7 mm
  • Phía trên phía sau: 5 mm
  • Gầm phía sau: 7 mm
  • Gầm: 5 mm
  • Mái: 7 mm

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Tai Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

BTR-60 được biên chế vào quân đội Xô Viết vào ngày 13 tháng 12 năm 1959. Nó bắt đầu được sử dụng đại trà vào năm 1960. Nó bắt đầu thay thế những chiếc BTR-152. Đầu tiên tại bộ binh, sau đó hải quân và hải quân đánh bộ cũng được trang bị loại xe này. Phương Tây nhận được những thôn tin về BTR-60P vào năm 1961. Sau đó, cấc biến thể của BTR-60 cũng bắt đầu được quân đội Liên Xô chấp nhận như BTR-60PA năm 1963, PA-1 và PAI năm 1965, BTR-60PB năm 1966, BTR-60PZ năm 1972 và BTR-60PK năm 1975. Liên Xô bắt đầu thay thế BTR-60 vào nhưng năm 1980 bằng BTR-70BTR-80.

Chiến tranh Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

BTR-60 cũng được Liên Xô viện trợ cho Việt Nam từ cuối thời kỳ chiến tranh, chủ yếu là những chiếc BTR-60PB. Nó được Quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng trong chiến dịch Hồ Chí Minh và phát huy hiệu quả khá tốt.[3][4]

Xung đột biên giới Trung - Xô[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 1969, các cuộc xung đột giữa Liên XôTrung Quốc xảy ra tại sông Ussuri ngày càng giữ dội. Các đơn vị của Liên Xô lúc này được trang bị nhiều xe bọc thép BTR-60PB lội nước, chúng đã làm cho quân Trung Quốc thiệt hại nặng khi các đơn vị này lội ra giữa sông Ussri rồi tấn công bất ngờ vào các toán quân Trung Quốc. Chính từ đây thì các xe APC của Liên Xô đã thể hiện khả năng chiến đấu vượt trội rõ ràng hơn các xe APC BTR-152BTR-40 cũ của Trung Quốc. Tuy vậy, người Xô Viết cũng phải xem lại độ bọc thép của xe do thiệt hại của BTR-60 chủ yếu là do RPG.

Chiến tranh Xô Viết tại Afghanistan[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Afghanistan, quân đội Xô Viết cũng sử dụng một số xe BTR-60PB. Nhưng nó đã bộc lộ điểm yếu của mình với việc liên tục chịu thiệt hại do RPG, động cơ GAZ-40P không chịu được thời tiết quá nóng tại Afghanistan và những chiếc BTR-60 không có khả năng tấn công quân Mujahideen ở phía trên cao do tháp pháo quá ngắn và nhỏ, không thể đưa nòng súng lên cao. Sau đó, chúng được thay thế bằng các xe BTR-70BTR-80.

Một chiếc BTR-60 của quân Xô Viết bị bỏ lại ở 1 ngôi làng thuộc tỉnh Oruzgan Afghanistan

Thông số kỹ thuật cơ bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • Loại: Xe thiết giáp chạy bằng bánh hơi
  • Nước SX: Liên Xô
  • Nặng: 10.1 tấn (BTR-60P)

11.1 tấn (BTR-60PA) 11.4 tấn (BTR-60PB)

  • Dài: 7.56 m
  • Rộng: 2.825 m
  • Cao: 2.06 m

2.31 m (BTR-60PAI, BTR-60PB, BTR-60PBK và BTR-60PZ)

  • Tổ lái: 2 + 16 lính (BTR-60P)

2 + 14 lính (BTR-60PA) 3 + 14 lính (BTR-60PAI, BTR-60PB và BTR-60PZ)

  • Giáp: Dày nhất 9mm ở thân xe

7mm ở tháp pháo

  • Vũ khí: 1 đại liên 12,7mm hoặc 14,5mm trên tháp pháo+ 2 súng 7,62mm
  • Động cơ: 2 động cơ 6-cyl. khí đốt GAZ-49 từ 94 mã lực đến 115 mã lực tùy phiên bản
  • Tầm hoạt động: 500 km
  • Tốc độ:80 km/h trên cạn

10 km/h dưới nước [5]

BTR-60PB

Các quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các nước sử dụng BTR-60 (mọi biến thể)

Các quốc gia còn sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Bulgaria - 900 BTR-60P và BTR-60PAU
  •  Lào – Khoảng 35 BTR-60P
  •  Nga - 4,900 BTR-60, BTR-70 và BTR-80

Các quốc gia từng sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Một số biến thể nổi tiếng của NgaLiên Xô cũ bao gồm như :

Liên Xô[sửa | sửa mã nguồn]

  • BTR-60P (1959) (P là viết tắt cho plavajushhijj - "bơi")
  • BTR-60P một khẩu súng máy thay đổi điểm lắp ở phía trước để phù hợp với DShK 1938-1946 12,7 súng máy mm nặng như BTR-60PA thay vì dùng súng máy 7,62 mm (PKT, SGMB hoặc PKB). Chiếc xe mang theo 500 viên đạn cho 1938-1946 DShK 12,7 súng mm máy hạng nặng và 3.000 viên đạn cho tới 7,62 súng máy mm (hoặc PKT, SGMB hoặc PKB).
  • BTR-60P chuyển đổi thành một chiếc xe chỉ huy được trang bị với một ăng ten chạy xung quanh 3 mặt trên thân xe.
  • BTR-60P M1961 / 1 - BTR-60P chuyển đổi thành một chiếc xe hỗ trợ hỏa lực. Nó được trang bị tháp pháo của PT-76.
  • BTR-60P M1961 / 2
  • MTR-2
  • BTR-60PA (1963)
  • BTR-60PA-1
  • MTP-2
  • BTR-60PAI (1965) - Súng DShK 12,7 súng mm máy hạng nặng thay thế bởi hình nón trong hình dạng tháp pháo BPU-1 từ BRDM-2
  • BTR-60PB (1966) - Cải thiện hệ thống 14,5 mm KPVT súng máy hạng nặng và động cơ GAZ-49B được cải thiện. Tháp pháo đã sửa đổi , KPVT 14,5 mm súng máy hạng nặng và 1 khẩu PKT 7,62 mm đã được di chuyển sang phải. Giáp bảo vệ cũng đã được cải thiện. Giáp phía trước của BTR-60PB có thể chịu được hỏa lực đạn 7,62 mm đạn từ bất kỳ phạm vi trong khi phần còn lại của áo giáp bảo vệ của nó có thể chịu được đạn 7,62 mm đạn từ khoảng cách 100 m. Nó có một hệ thống lọc và điều áp. Nó cũng có hộp để chứa dụng cụ và lốp dự phòng. Nó có một cửa phụ ở phía bên tay trái của phần phía trước của khoang quân. Một số BTR-60PB cũng thiếu một trong các cổng bắn ở phía bên tay trái của thân xe. BTR-60PB có sự cải thiện trông thấy giống như BTR-70, trong đó bao gồm một cửa thoát nhỏ bổ sung được hướng ra phía sau trên nóc tháp pháo. Chiếc xe mang theo 500 viên đạn cho 14,5 mm KPVT súng máy hạng nặng và 3.000 viên đạn cho 7,62 mm PKT.

Nga[sửa | sửa mã nguồn]

  • BTR-60PBM phiên bản nâng cấp của BTR-60PB.
  • MWS
  • MWS-M
  • 9K35M3-K "Kolchan"
  • Irtish - BTR-60PB chuyển đổi thành xe sửa chữa dân sự.
  • BTR-60PPM - BTR-60PB chuyển đổi thành xe chữa cháy dân sự bọc thép.

Ngoài ra còn nhiều biến thể của Nga - Liên Xô và nhiều quốc gia khác. Xem thêm http://en.wikipedia.org/wiki/BTR-60

Thư viện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]