Bangtan Boys

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bangtan Boys
방탄소년단
20130914 seoulbeats bangtan-boys-620x500.jpg
(từ trái sang phải) V, Suga, Jin, JungKook, Rap Monster, Jimin, J-Hope
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh BTS, Bulletproof Boy Scouts
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại K-pop, Hip-hop
Năm 2013–nay
Hãng đĩa Big Hit Entertainment
Website Official website
Thành viên hiện tại
Jin
Suga
J-Hope
Rap Monster
Jimin
V
Jungkook
Bangtan Boys
Hangul 방탄소년
Hanja (Hán tự) 防彈少年
Romaja quốc ngữ Bangtansonyeondan
McCune-Reischauer Bangt'ansonyǒndan
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Bangtan Boys (Korean: 방탄소년단) còn được gọi là BTS (viết tắt của Bangtan Sonyeondan). Dịch: Bulletproof Boy Scouts. Là một nhóm nhạc hip-hop của Hàn Quốc gồm 7 thành viên, do chủ tịch của Big Hit Entertainment là Bang Sihyuk thành lập nên. "Bangtan" trong tên gọi của nhóm có nghĩa là khả năng chống đạn, có thể hiểu Bangtan Boys là những chàng trai chặn đứng những áp đặt đối với thế hệ trẻ, đồng thời bảo vệ dòng âm nhạc của mình khỏi những định kiến này.

Fanclub chính thức của Bangtan Boys là A.R.M.Y

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi xuất hiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ban đầu dự định ra mắt năm 2010 nhưng sau đó đã bị hoãn lại do các thành viên rời bỏ nhóm, chỉ còn lại duy nhất Rap Monster. Sau đó mới gia nhập thêm 6 thành viên như bây giờ, Jimin là thành viên cuối cùng tham gia nhóm. J-Hope xuất hiện trên một số chương trình ca nhạc vì đoạn rap của anh trong ca khúc "Animal", thuộc single solo đầu tay của đàn anh cùng công ty Jo Kwon 2AM. Trừ Rap Monster và Jimin, 5 thành viên còn lại cũng xuất hiện trong MV "I'm Da One" của Jokwon. Nhóm cũng từng tham gia vào những ca khúc của Lee Hyun (8eight), Kan Miyeon (Baby V.O.X), Lee Seunggi và concert của đàn chị Lim Junghee.
  • Trước khi ra mắt, nhóm đã phát hành 2 ca khúc cover. Ca khúc "Drank" của Kendrick Lamar được 3 thành viên Jin, Rap Monster và Suga cover thành "School of Tears" - bài hát nói về xã hội hiện đại cũng như áp lực, bệnh thành tích ở trường học. Ba thành viên khác là Jimin, J-Hope và JungKook cover "Young, Wild and Free" của Wiz Khalifa thành ca khúc "Graduation Song". Riêng thành viên V được giữ bí mật cho đến khi trailer teaser ra mắt.
  • Trước khi chính thức ra mắt, nhóm nhận được sự quan tâm lớn của công chúng không chỉ bởi cái tên đặc biệt "Bangtan Boys", mà còn bởi dòng nhạc rap/hip-hop mà nhóm theo đuổi. Với Bangtan Boys, hip-hop là phương tiện truyền tải những câu chuyện, tâm tư của nhóm với công chúng. Chính vì vậy mà không có gì đáng ngạc nhiên khi toàn bộ các ca khúc của Bangtan Boys đều do các thành viên tự sáng tác, soạn lời và sản xuất.

2013[sửa | sửa mã nguồn]

Debut single "2 COOL 4 SKOOL"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trailer debut đầu tiên được phát hành vào ngày 26 tháng 5 năm 2013. Ngày 2 tháng 6, teaser hình ảnh đầu tiên của thành viên V được đăng tải trên trang web chính thức của Bangtan Boys [1]. Tiếp sau đó, ngày 3 tháng 6 là teaser hình ảnh các thành viên Jin, Jimin và JungKook[2]. Cuối cùng, ngày 6 tháng 6 teaser của ba thành viên còn lại: J-Hope, Suga, và Rap Monster được công bố[3].
  • Ngày 6 và ngày 9 tháng 6, BTS tung ra 2 trailer giới thiệu cho ca khúc chủ đề "No More Dream" - nằm trong Debut single "2 COOL 4 SKOOL" của nhóm phát hành ngày 11/6. Bài hát được đánh giá cao khi theo đuổi phong cách độc đáo và cá tính, dù đây không phải là hình tượng mới lạ tại Kpop, song MV này đã tạo được màu sắc riêng với giọng rap cực ngầu cùng giai điệu mạnh mẽ, nam tính, lời ca trẻ trung có chút bất cần. Single này cũng đã đạt vị trí No.1 trên bảng xếp hạng thường nhật Hanteo.
  • Nhóm chính thức ra mắt trong showcase hoành tráng ngày 12/6. Sâu khấu debut đầu tiên là M!Countdown ngày 13/6. Sau đó Big Hit còn tung ra 3 phiên bản: Dance (ngày 16/6), BTS luyện tập vũ đạo (ngày 20/6) và phiên bản cảnh hậu trường (ngày 22/6) của "No More Dream".
  • Ngày 16/7 BTS đã phát hành một video âm nhạc mới cho ca khúc "We Are Bulletproof Pt.2" của mình. "We Are Bulletproof Pt.2" là ca khúc thứ hai nằm trong đĩa đơn "2 COOL 4 SKOOL", chủ yếu khoe những vũ đạo khéo léo của họ. Và MV tập nhảy của ca khúc này cũng đã được phát hành ngày 26 cùng tháng.

1st Mini Album "O! RUL8,2?" (Oh! Are You Late, Too?)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Comeback trailer của BTS đăng tải trên Kênh YouTube chính thức của Big Hit vào ngày 27/8 với những hình ảnh ấn tượng in biểu tượng BTS cùng giọng rap mạnh mẽ của Rap Monster, kết thúc trailer là tiêu đề mini album được viết bằng màu đỏ nổi bật trên nền trắng. Ngày 4/9 concept trailer được đăng tải với vũ đạo mạnh mẽ, đẹp mắt và beat nhạc dồn dập. Sau 2 teaser và bản nghe thử album (ngày 8/9) được tung ra, Bangtan Boys đã trở lại với 1st Mini Album "O! RUL8,2?" (Oh! Are You Late, Too?) với bài hát chủ đề "N.O" phát hành ngày 11/9.
  • Sau khi kết thúc sân khấu quảng bá "N.O" cuối cùng trên Inkigayo (ngày 20/10). BTS quay lại các show âm nhạc hàng tuần với "Attack on Bangtan" (진격의 방탄) (trích trong 1st Mini Album) vào ngày 6/11 trên sân khấu của Show champion. Họ kết thúc loạt quảng bá dài hơi này ngày 17/11.

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • BTS có một chương trình tạp kĩ của riêng họ mang tên "Rookie King BTS: Channel Bangtan" (신인왕: 방탄 소년단). Phát sóng thứ ba hàng tuần trên SBS MTV, bắt đầu từ ngày 3/9/2013[4]
  • Ngày 30/11/2013: BTS được mời tham gia "7color concert" tại Thái Lan. Đã có 8 nghìn fan tới ủng hộ họ.

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

  • BTS được đề cử ở 2 hạng mục: Best New Male Artist (Tân binh nam xuất sắc của năm) và Artist of the Year (Nghệ sĩ của năm) tại Mnet Asian Music Awards (MAMA) 2013.
  • Ngày 14/11/2013: Nhóm thắng giải "Rookie Award" (Nghệ sĩ mới xuất sắc của năm) tại Melon Music Awards (MMA) 2013.[5]
  • Nhóm cũng thắng giải "Newcomer male""Single Album" tại So-Loved Awards [6] (So-Loved Awards là giải thưởng đầu tiên về Kpop của Châu Âu và những phiếu bầu chỉ được tính nếu như bạn đến từ các nước thuộc Châu Âu)
  • Ngày 16/01/2014: Nhóm thắng giải "Newcomer Award" (Nghệ sĩ mới xuất sắc) tại 28th Golden Disk Awards 2013
  • Ngày 23/01/2014: Nhóm thắng giải "Best Rookie Award" (Nghệ sĩ mới xuất sắc của năm) tại Seoul Music Awards 2013
  • Nhóm cũng đã chiến thắng giải "Rookie of the Year" (Nghệ sĩ mới xuất sắc của năm) của Soompi Gayo Awards, một giải thưởng của tạp chí Soompi
  • Ngày 12/02/2014: Nhóm thắng giải "New Artist of the Year (Male Group)" (Nghệ sĩ mới xuất sắc của năm - Nhóm nhạc Nam) tại Gaon Chart K-Pop Awards
  • Ngày 23/02/2014: Nhóm được đề cử tranh hạng nhất trên SBS Inkigayo cùng ca khúc mới "Boy In Luv" và đã nhận được hạng 3

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh[7] và vai trò
Latinh hóa Hangul Latinh hóa Hangul
Jin Kim Seokjin 김석진 4 tháng 12 , 1992 (Lead Vocalist, Face of Group)
Suga 슈가 Min Yoongi 민윤기 9 tháng 3 , 1993 ( Lead Rapper)
J-Hope 제이홉 Jung Hoseok 정호석 18 tháng 2, 1994 (Lead Dancer, Lead Rapper)
Rap Monster 랩몬스터 Kim Namjoon 김남준 12 tháng 9, 1994 (Leader, Main Rapper)
Jimin 지민 Park Jimin 박지민 13 tháng 10, 1995 ( Main Vocalist, Main Dancer)
V Kim Taehyung 김태형 30 tháng 12, 1995 (Lead Vocalist)
Jungkook 정국 Jeon Jeongguk 전정국 1 tháng 9, 1997 (Maknae, Lead Vocalist, Lead Dancer, Rapper)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ [2]
  3. ^ [3]
  4. ^ [4]
  5. ^ [5]
  6. ^ [6]
  7. ^ “BTS Profile”. Website chính thức của BTS. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn: Tổng hợp tin bài về Bangtan Boys