Bangtan Boys

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bangtan Boys
방탄소년단
Nghệ danh BTS, Bulletproof Boy Scouts
Nguyên quán Seoul, Hàn Quốc
Thể loại K-pop, Hip-hop
Năm 2013–nay
Hãng đĩa Big Hit Entertainment
Website Official website
Thành viên hiện tại
Jin
Suga
J-Hope
Rap Monster
Jimin
V
Jungkook
Bangtan Boys
Hangul 방탄소년
Hanja (Hán tự) 防彈少年
Romaja quốc ngữ Bangtansonyeondan
McCune-Reischauer Bangt'ansonyǒndan
Hangugeo-Chosonmal.png
Bài viết này có chứa các ký tự Triều Tiên. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các ký tự Chosŏn'gŭl hay Hanja.

Bangtan Boys (Korean: 방탄소년단) còn được gọi là BTS (viết tắt của Bangtan Sonyeondan). Dịch: Bulletproof Boy Scouts. Là một nhóm nhạc hip-hop của Hàn Quốc gồm 7 thành viên, do chủ tịch của Big Hit Entertainment là Bang Sihyuk thành lập nên. "Bangtan" trong tên gọi của nhóm có nghĩa là khả năng chống đạn, có thể hiểu Bangtan Boys là những chàng trai chặn đứng những áp đặt đối với thế hệ trẻ, đồng thời bảo vệ dòng âm nhạc của mình khỏi những định kiến này.

Fanclub chính thức của BTS là A.R.M.Y: A - Adorable; R - Representative; M - M.C ( Master of Ceremonies); Y - Youth

Nhóm trực thuộc 2 công ty quản lí: Big Hit Entertainment ( Hàn Quốc); Pony Canyon ( Nhật Bản)

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước khi xuất hiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ban đầu dự định ra mắt năm 2010 nhưng sau đó đã bị hoãn lại do các thành viên rời bỏ nhóm, chỉ còn lại duy nhất Rap Monster. Sau đó mới gia nhập thêm 6 thành viên như bây giờ, Jimin là thành viên cuối cùng tham gia nhóm. J-Hope xuất hiện trên một số chương trình ca nhạc vì đoạn rap của anh trong ca khúc "Animal", thuộc single solo đầu tay của đàn anh cùng công ty Jo Kwon 2AM. Trừ Rap Monster và Jimin, 5 thành viên còn lại cũng xuất hiện trong MV "I'm Da One" của Jokwon. Nhóm cũng từng tham gia vào những ca khúc của Lee Hyun (8eight), Kan Miyeon (Baby V.O.X), Lee Seunggi và concert của đàn chị Lim Junghee.
  • Trước khi ra mắt, nhóm đã phát hành 2 ca khúc cover. Ca khúc "Drank" của Kendrick Lamar được 3 thành viên Jin, Rap Monster và Suga cover thành "School of Tears" - bài hát nói về xã hội hiện đại cũng như áp lực, bệnh thành tích ở trường học. Ba thành viên khác là Jimin, J-Hope và JungKook cover "Young, Wild and Free" của Wiz Khalifa thành ca khúc "Graduation Song". Riêng thành viên V được giữ bí mật cho đến khi trailer teaser ra mắt.
  • Trước khi chính thức ra mắt, nhóm nhận được sự quan tâm lớn của công chúng không chỉ bởi cái tên đặc biệt "Bangtan Boys", mà còn bởi dòng nhạc rap/hip-hop mà nhóm theo đuổi. Với Bangtan Boys, hip-hop là phương tiện truyền tải những câu chuyện, tâm tư của nhóm với công chúng. Chính vì vậy mà không có gì đáng ngạc nhiên khi toàn bộ các ca khúc của Bangtan Boys đều do các thành viên tự sáng tác, soạn lời và sản xuất.

2013[sửa | sửa mã nguồn]

Debut single "2 COOL 4 SKOOL"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trailer debut đầu tiên được phát hành vào ngày 26 tháng 5 năm 2013. Ngày 2 tháng 6, teaser hình ảnh đầu tiên của thành viên V được đăng tải trên trang web chính thức của Bangtan Boys [1]. Tiếp sau đó, ngày 3 tháng 6 là teaser hình ảnh các thành viên Jin, Jimin và JungKook[2]. Cuối cùng, ngày 6 tháng 6 teaser của ba thành viên còn lại: J-Hope, Suga, và Rap Monster được công bố[3].
  • Ngày 6 và ngày 9 tháng 6, BTS tung ra 2 trailer giới thiệu cho ca khúc chủ đề "No More Dream" - nằm trong Debut single "2 COOL 4 SKOOL" của nhóm phát hành ngày 11/6. Bài hát được đánh giá cao khi theo đuổi phong cách độc đáo và cá tính, dù đây không phải là hình tượng mới lạ tại Kpop, song MV này đã tạo được màu sắc riêng với giọng rap cực ngầu cùng giai điệu mạnh mẽ, nam tính, lời ca trẻ trung có chút bất cần. Single này cũng đã đạt vị trí No.1 trên bảng xếp hạng thường nhật Hanteo.
  • Nhóm chính thức ra mắt trong showcase hoành tráng ngày 12/6. Sâu khấu debut đầu tiên là M!Countdown ngày 13/6. Sau đó Big Hit còn tung ra 3 phiên bản: Dance (ngày 16/6), BTS luyện tập vũ đạo (ngày 20/6) và phiên bản cảnh hậu trường (ngày 22/6) của "No More Dream".
  • Ngày 16/7 BTS đã phát hành một video âm nhạc mới cho ca khúc "We Are Bulletproof Pt.2" của mình. "We Are Bulletproof Pt.2" là ca khúc thứ hai nằm trong đĩa đơn "2 COOL 4 SKOOL", chủ yếu khoe những vũ đạo khéo léo của họ. Và MV tập nhảy của ca khúc này cũng đã được phát hành ngày 26 cùng tháng.

1st Mini Album "O! RUL8,2?" (Oh! Are You Late, Too?)[sửa | sửa mã nguồn]

  • Comeback trailer của BTS đăng tải trên Kênh YouTube chính thức của Big Hit vào ngày 27/8 với những hình ảnh ấn tượng in biểu tượng BTS cùng giọng rap mạnh mẽ của Rap Monster, kết thúc trailer là tiêu đề mini album được viết bằng màu đỏ nổi bật trên nền trắng. Ngày 4/9 concept trailer được đăng tải với vũ đạo mạnh mẽ, đẹp mắt và beat nhạc dồn dập. Sau 2 teaser và bản nghe thử album (ngày 8/9) được tung ra, Bangtan Boys đã trở lại với 1st Mini Album "O! RUL8,2?" (Oh! Are You Late, Too?) với bài hát chủ đề "N.O" phát hành ngày 11/9.
  • Sau khi kết thúc sân khấu quảng bá "N.O" cuối cùng trên Inkigayo (ngày 20/10). BTS quay lại các show âm nhạc hàng tuần với "Attack on Bangtan" (진격의 방탄) (trích trong 1st Mini Album) vào ngày 6/11 trên sân khấu của Show champion. Họ kết thúc loạt quảng bá dài hơi này ngày 17/11.

2014[sửa | sửa mã nguồn]

Mini album vol.2 "Skool Luv Affair"[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 12 tháng 2 năm 2014, nhóm đã cho ra mắt mini album thứ 2 mang tên "Skool Luv Affair" với bài hát chủ đề là Boy In Luv được sản xuất bởi các nhạc sĩ, producer và 2 thành viên của nhóm là leader Rap Monster và Suga.

Full album vol.1 "Dark&Wild"[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 20 tháng 8, nhóm ra phát hành album phòng thu đầu tiên là "Dark&Wild" bao gồm 14 bài hát. Trong đó, bài hát chủ đề lần này là Danger. Nhạc sĩ Thanh Bùi tham gia sáng tác cùng công ty quản lí cho ca khúc Danger

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 6/2014, BTS sang L.A ( Los Angeles, USA) để học tập thêm về hip-hop cho ca album mới của họ. Trong 3 tuần học tập tại L.A, BTS được gặp các rapper huyền thoại như Warren G, Coolio. Ekip và nhân viên đã ghi lại quá trình học tập tại L.A để làm thành chương trình thực tế " American Hustle Life". Không lâu sau, họ tham gia vào sự kiện KCON của Hàn Quốc cũng tại L.A cùng các nhóm nhạc thần tượng khác như SNSD, G-Dragon,...
  • BTS có một chương trình tạp kĩ của riêng họ mang tên "Rookie King BTS: Channel Bangtan" (신인왕: 방탄 소년단). Phát sóng thứ ba hàng tuần trên SBS MTV, bắt đầu từ ngày 3/9/2013[4]

Concert[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2014: O! RUL8,2? Showcase (Germany, Sweden, Brazil).
  • 2014: Music Bank in Mexico.
  • 2014: BTS 2014 TRILOGY LIVE EPISODE II. THE RED BULLET.
  • 2015: WAKE UP TOUR in JAPAN

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm ngày tháng Lễ trao giải Giải thưởng đạt được
Năm 2013 14/11/2013 Melon Music Awards (MMA) 2013 Rookie Award (Nghệ sĩ mới xuất sắc của năm)
2/12/2013 So Loved Awards 2013 Best Male Debut

Best Single Album (2cool 4SKOOL)

13/12/2013 SBS Pop Asia Awards Best Rookie Group
17/12/2013 Remarkable Awards 2013 Best New Artist
31/12/2013 Soompi 2013 Awards Rookie of the Year
Năm 2014 16/1/2014 28th Golden Disk Awards Newcomer Award(Nghệ sĩ mới xuất sắc)
23/01/2014 Seoul Music Awards 2013 Best Rookie Award (Nghệ sĩ mới xuất sắc của năm)
12/02/2014 Gaon Chart K-Pop Awards Best New Artist (Male Group)
23/02/2014 SBS Inkigayo Đạt hạng 3
15/4/2014 Yin Yue Tai 2nd V Chart Awards Top New Artist
1/10/2014 So-Loved Awards Choreography Male

Hip Hop/ R&B

Best Song ( Boy In LUV)

25/11/2014 Pops in Seoul Rising Star 2014
28/12/2014 5th Philippine Kpop Convention Best New Artist 2013
Năm 2015 Eat your Kimchi Awards Best Male Group
15/1/2015 29th Golden Disk Awards Bonsang Award
22/1/2015 24th Seoul Music Awards Bonsang Award
28/1/2015 4th Gaon Chart K-Pop Awards World Rookie Award
16/1/2015 International K-Music Awards Best Male Group

Best Choreography

Remarkable Awards Best Male Dance

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh[5] và vai trò
Latinh hóa Hangul Latinh hóa Hangul
Jin Kim Seokjin 김석진 4 tháng 12, 1992 (Vocalist)
Suga 슈가 Min Yoongi 민윤기 9 tháng 3, 1993 (Lead Rapper)
J-Hope 제이홉 Jung Hoseok 정호석 18 tháng 2, 1994 (Lead Dancer, Lead Rapper)
Rap Monster 랩몬스터 Kim Namjoon 김남준 12 tháng 9, 1994 (Leader, Main Rapper)
Jimin 지민 Park Jimin 박지민 13 tháng 10, 1995 (Lead Vocalist, Main Dancer)
V Kim Taehyung 김태형 30 tháng 12, 1995 (Vocalist)
Jungkook 정국 Jeon Jeongguk 전정국 1 tháng 9, 1997

(Maknae, Main Vocalist, Lead Dancer, Rapper)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ [2]
  3. ^ [3]
  4. ^ [4]
  5. ^ “BTS Profile”. Website chính thức của BTS. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn: Tổng hợp tin bài về Bangtan Boys