Bayinnaung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bayinnaung
ဘုရင့်နောင်
Bayinnaung.JPG
Tượng Bayinnaung ở phía trước của Bảo tàng Quốc gia Myanmar
Tại vị 11 tháng 01 năm 1551 – tháng 11 năm 1581 (30 năm 10 tháng)
Đăng quang 12 tháng 01 năm 1554
Tiền nhiệm Tabinshwehti
Kế vị Nanda
Thông tin chung
Phối ngẫu Atulathiri
Sandadewi
Yazadewi[1]
Hậu duệ Nanda
Nyaungyan
Minye Thihathu
Nawrahta Minsaw[1]
Tên đầy đủ Shin Ye Htut (ရှင်ရဲထွတ်)
Hoàng tộc Taungoo
Thân phụ Mingyiswe
Thân mẫu Shin Myo Myat
Sinh 13 tháng 2 năm 1516[2]
Mất Tháng 11 năm 1581 (hưởng dương 65 tuổi)
Pegu
An táng Pegu
Tôn giáo Phật giáo Thượng tọa bộ
Burmese character k.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Myanma. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Myanma.

Bayinnaung (tiếng Miến Điện: ဘုရင့်နောင်, phát âm [bəjɪ̰ɴ nàuɴ]; sinh: 13/11/1516 – mất 11/1581) là vị vua đời thứ ba của nhà TaungooMyanma. Suốt 30 năm trị vì, mà một sử gia từng đánh giá là "sự bùng nổ nhiệt huyết lớn nhất từng thấy ở Myanma", Bayinnaung đã thành lập nên đế quốc lớn nhất Đông Nam Á, bao gồm Myanma ngày nay, Manipur nay thuộc Ấn Độ, Mong Mao (những nhà nước cổ của người ShanVân Nam), Lan Na (bắc Thái Lan ngày nay), Ayutthaya (miền trung và nam Thái Lan ngày nay) và Lan Xang (đông bắc Thái Lan và Lào ngày nay).[3]

Dù người ta thường hay nhớ đến ông vì võ công vĩ đại xây dựng đế quốc, song di sản lớn nhất của Bayinnaung là đã thu phục được các nhà nước Shan vào vương quốc do người Miến lãnh đạo, nhờ đó loại bỏ nguy cơ người Shan xâm phạm Thượng Miến, một nguy cơ xuất hiện và thường trực từ cuối thế kỷ 13. Sau khi chinh phạt các nhà nước Shan vào năm 1557, vị vua này đã thiết kế một hệ thống hành chính làm suy yếu sức mạnh thế tập của các saopha (tù trưởng) người Shan, và điều chỉnh các tập quán của người Shan phù hợp với những chuẩn mực của người Miến. Chính sách đối với người Shan của ông được các vị vua người Miến sau này tiếp tục cho đến tận khi vương quốc này bị thực dân Anh thôn tính vào năm 1885.[4]

Tuy nhiên, ông đã không thể áp dụng chính sách hành chính nói trên vào bất kỳ đâu khác trong đế quốc của mình. Đế quốc của ông là một tập hợp lỏng lẻo các vương quốc có chủ quyền mà vua của những xứ đó thần phục chính bản thân ông như một vị vua của các vị vua, chứ không thần phục vương quốc Taungoo. Chỉ sau khi ông qua đời chỉ 3 năm, người Ayutthaya đã vùng dậy. Đến năm 1599, tất cả các vị vua mà ông đã khuất phục đều đã phản lại, và đế quốc của Bayinnaung đã sụp đổ hoàn toàn.

Ở Thái Lan, ông nổi tiếng nhờ một bài hát và một cuốn sách thu hút rộng rãi độc giả có tên "Phu Chana Sip Thit" nghĩa là "Người chinh phạt thập phương".

Tuổi trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Theo truyền thuyết, Bayinnaung là con trai của một cặp vợ chống làm nghề chế mật mía nhà ở gần Pagan. Lúc nhỏ ông có tên là Shin Ye Htut (ရှင်ရဲထွတ်). Ye Htut trong tiếng Myanma có nghĩa là "con mối", vì lúc sinh ở vườn nhà ông có một tổ mối. Ngay sau khi ông ra đời thì đến lượt Hoàng tử Mintaya chào đời. Mẹ Ye Htut được gọi đến Taungoo làm nhũ mẫu cho Hoàng tử Mintaya. Ở Taungoo, Ye Htut và Hoàng tử Mintaya lớn lên cùng nhau và trở thành bạn của nhau. Khi trưởng thành, Ye Htut được làm quan nhỏ trong triều. Vì dám có quan hệ yêu đương với công chúa con vua, nên Ye Htut đáng lẽ đã bị tống vào ngục, nhưng may nhờ một vị sư xin giúp mà thoát tội. Sau đó, Hoàng tử Mintaya lên ngôi vua, tức là Vua Tabinshweti nhà Taungoo, vào năm 1531. Nhờ là bạn của vua thuở nhỏ, Ye Htut được vua yêu mến, gả em mình cho và được vua mới gọi bằng Bayinnaung Kyawhtin Nawrahta (Bayinnaung nghĩa là "hoàng nghĩa đệ").

Sau thất bại trong việc chinh phạt Ayutthaya vào năm 1548, Tabinshweti chán nản và suy nhược tinh thần. Khi đó, Bayinnaung được vua phong làm phó vương và đã kiểm soát chính sự để giữ yên đất nước. Smim Htaw, con trai một vị vua người MônPegu đã nổi dậy và Tabinshweti bị một thuộc hạ thân tín người Môn tên là Smim Sawhtut - vốn cũng là người dòng dõi hoàng tộc Môn - ám sát. Smim Sawhtut sau đó tự xưng là vua của người Môn, và như vậy kình địch với Smim Htaw. Smim Htaw đã dẫn quân Môn tấn công Pegu và đã giết được Smim Sawhtut.

Giành lại đất nước (1550-1555)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Tabinshwehti bị người Môn ám sát ngay tại kinh đô Pegu vào năm 1550, Bayinnaung đã lãnh đạo cuộc chiến tranh giành lại vương quốc của Tabinshwehti, giành lại Taungoo và Prome vào năm 1551, Pegu, Martaban, và Bassein vào năm 1552, và cuối cùng là Ava vào năm 1555.

Các nhà nước Shan và Chiang Mai (1557-1558)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi giành lại Thượng Miến và Hạ Miến, Bayinnaung đã dẫn quân tiến lên phía bắc chinh phạt khu vực của người Shan và chiếm được Mong Mit, Hsipaw, Yawnghwe, Mong Yang, và Mogaung vào năm 1557.

Năm tiếp theo, ông đánh chiếm Mong NaiLan Na (Zin Mè 1558). Năm 1563, ông chinh phạt Mong Mao, một nhà nước khác của người Shan mà nay nằm trong lãnh thổ Trung Quốc hiện tại.

Năm 1576, ông đưa quân trở lại Mogaung để tăng cường sự kiểm soát của mình ở đây.

Ayutthaya (1564-1569)[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1563, Bayinnaung tiến hành một chiến dịch quân sự lớn nhằm vào Ayutthaya, chiếm được kinh đô của nước này, buộc vua Ayutthaya phải đầu hàng vào năm 1569 mặc dù người Thái không ngừng kháng cự ở khắp nơi. Trong thực tế, Ayutthaya đã bị khuất phục thành một chư hầu của Myanma, và hàng ngàn người Thái đã bị bắt đem về Myanma, gồm cả hai hoàng tử NaresuanEkathotsarot.

Lan Xang (những năm 1570)[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng trong thời kỳ những năm 1570 Bayinnaung đã chinh phạt vương quốc Lan Xang (Lin Zin) ở Lào ngày nay. Vua Lan Xang, Setthathirath, và thần dân của ông đã bỏ kinh đô Viêng Chăn vào rừng sâu kháng chiến.

Bayinnaung đã truy đuổi vào trong rừng sâu, nhưng chiến tranh trong địa hình như vậy rất khó khăn. Rất khó tìm ra và giáp chiến với đối phương. Không thực sự kiểm soát nổi Lan Xang, Bayinnaung rút về Myanma.

Nhưng không bỏ cuộc, năm 1574, Bayinnaung lại tái chinh phạt Lan Xang. Ông đã thử lùa dân địa phương quay về kinh đô và xây dựng lại vương quốc này và cho người của ông cai trị.

Qua đời (1581)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay trước khi qua đời năm 1581 Bayinnaung vẫn còn chuẩn bị mở một cuộc tấn công nữa vào Arakan ở ven biển phía tây. Kế vị Bayinnaung là con trai ông, Nanda Bayin. Trong thời kỳ con ông trị vì, đế quốc mà Bayinnaung xây dựng đã tan rã, và Ayutthaya đã ly khai ngay sau khi Bayinnaung qua đời.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Bayinnaung (mặc giáp phục) trong một cảnh phim "Puchana Sib Tid"
  • Là người đã chinh phạt Ayutthaya và Lan Na, những nhà nước tiền thân của Thái Lan, ông được người Thái biết đến khá nhiều và được kính trọng. Họ gọi ông là Burenong. Chote Praepan (bút danh "Jacob"), một nhà báo có ảnh hưởng ở Thái Lan và cũng là một nhà văn đã phát triển câu chuyện về ông theo hướng thành một bản anh hùng ca giả tưởng, "ผู้ชนะสิบทิศ" hay "Puchana Sib Tid", nghĩa là "người chinh phạt mười phương". Trong truyện, ông là người đã đem vị hoàng tử nhỏ tuổi người Thái về Myanma và dạy dỗ.
  • Tiểu thuyết nói trên đã được dùng để làm phim truyền hình và phim truyện. Một bài hát cùng tên đã được viết cho các bộ phim và do Charintra Nanthanakorn thể hiện, đến nay vẫn là một trong những bài hát phổ biến nhất ở Thái Lan.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Tun Aung Chain (2004). Selected Writings of Tun Aung Chain. Myanmar Historical Commission. tr. 119. 
  2. ^ Khin Khin Ma (2004). Selected Writings of Khin Khin Ma. Myanmar Historical Commission, Golden Jubilee Publication Committee. tr. 21. 
  3. ^ Victor B Lieberman (2003). Strange Parallels: Southeast Asia in Global Context, c. 800-1830, volume 1, Integration on the Mainland. Cambridge University Press. tr. 150–154. 
  4. ^ Maung Htin Aung (1967). A History of Burma. New York and London: Cambridge University Press. tr. 117–118. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bayinnaung
Sinh: 2 / 1516 Mất: 11 / 1581
Tước hiệu
Tiền vị:
Tabinshwehti
Vua Myanma
1/1551 - 11/1581
Kế vị
Nanda