Beautiful (bài hát của Christina Aguilera)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Beautiful"
Đĩa đơn của Christina Aguilera
từ album Stripped
Phát hành 16 tháng 11, 2002
Định dạng Đĩa CD
Thu âm 2001
Thể loại Pop
Thời lượng 3:59
Hãng đĩa RCA Records
Sáng tác Linda Perry
Sản xuất Linda Perry
Thứ tự đĩa đơn của Christina Aguilera
"Dirrty"
(2002)
"Beautiful"
(2002)
"Fighter"
(2003)

"Beautiful" là bài hát bởi ca sĩ-người viết bài hát người Mỹ Christina Aguilera. Bài hát được Linda Perry sáng tác và sản xuất cho album phòng thu thứ tư của Aguilera, Stripped (2002). Ca khúc mang thể loại nhạc pop và được viết ở giọng E giáng trưởng. Lời bài hát có ý nghĩa không nên vì lời bình phẩm của những người khác mà trở nên mất tự tin, mà thay vào đó hãy chú ý vể đẹp nội tâm.

"Beautiful" được hãng thu âm RCA gửi tới các đài phát tại Mỹ ngày 16 tháng 10 năm 2002 và sau đó tiếp tục phát hành tại các lãnh thổ khác vào tháng 1 năm 2003, dưới dạng đĩa đơn thứ hai trích từ album. Ca khúc đã nhận được nhiều đánh giá tích cực từ phía phê bình, cho rằng đó là điểm nhấn của album Stripped. "Beautiful" đã mang về cho Christina một giải Grammy ở hạng mục "Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất" năm 2004.

"Beautiful" đã đạt được thành công vang dội, đứng đầu bảng xếp hạng của các quốc gia Úc, Canada, New Zealand, Ireland, Liên hiệp Anh và lọt vào tốp 5 bảng xếp hạng của các quốc gia Mỹ, Áo, Bỉ, Đức, Na Uy cùng rất nhiều quốc gia khác. Tới nay, ca khúc đã tiêu thụ được 1,5 triệu bản tại Mỹ và 4,6 triệu bản toàn thế giới. Video âm nhạc của bài hát đã được đạo diễn bởi Jonas Åkerlund.

Nhạc lý[sửa | sửa mã nguồn]

"Beautiful" là một bản nhạc pop mang hơi hướng ballad cổ điển viết trên nền nhạc soul với giai điệu chầm chậm của đàn cello. Bài hát được viết chủ yếu ở nốt E♭ major với chất giọng của Aguilera trải dài từ B♭3 đến G♭5 kết hợp cùng kĩ thuật melisma điêu luyện. Đây là một trong những bài hát của Aguilera có sử dụng nhiều nhạc cụ nhất gồm cello, piano, violintrống.

Thật sự Linda Perry đã viết "Beautiful" từ rất lâu trước khi được công chúng biết đến. Người đầu tiên được nghe bài hát này chính là Pink. Sau khi nghe xong, cô cảm thấy rất thích bởi ca từ mang đậm ý nghĩa nhân quyền và muốn nó trở thành một track trong album M!ssundaztood của mình. Nhưng Perry không chấp nhận vì muốn giữ bài hát cho sự nghiệp riêng. Ít lâu sau, khi hợp tác thu âm album Stripped, Perry lại một lần nữa giới thiệu "Beautiful" với Aguilera và Aguilera chính là người thứ hai được thưởng thức nó. Cũng như Pink, Aguilera cũng bị cuốn hút bởi giai điệu và ca từ của bài hát, cô cố gắng thuyết phục Perry cho mình thu âm nó song Perry vẫn từ chối. Nhưng sau khi nghe Aguilera thể hiện "Beautiful", Perry đã có ý nghĩ khác. Cô thật sự bị mê hoặc bởi giọng hát điêu luyện của Aguilera mà theo Perry thì "không ai có thể trình bày tuyệt vời và hoàn hảo hơn thế". Thế là hai người quyết định thu âm ca khúc này.

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Theo sự sắp đặt của Perry thì "Beautiful" sẽ được chọn làm đĩa đơn đầu tiên nhưng sau đó Aguilera đã chọn "Dirrty" để thay thế vị trí đó. Hãng RCA Records cũng đồng tình với ý tưởng đó vì họ cho rằng "Dirrty" sẽ đánh dấu bước ngoặt trưởng thành trong phong cách và hình ảnh của Aguilera trong Stripped. Sau sự thất bại của "Dirrty" trên Billboard Hot 100, "Beautiful" được phát hành nhanh chóng và đã gặt hát được nhiều thành công. Bài hát đạt vị trí #2 trên Billboard và ở trên Top 40 suốt 24 tuần. Bài hát thật sự thành công khi đồng loạt đạt vị trí #1 ở Anh, Úc, Canada và nhiều nước khác trên thế giới.

"Beautiful" cũng được đánh giá rất cao bởi các nhà phê bình âm nhạc, đem về cho Aguilera một giải Grammy 2004 ở hạng mục Nữ ca sĩ trình diễn Pop xuất sắc nhất và Perry một đề cử ở hạng mục Bài hát của năm. Bài hát còn xếp vị trí #2 trong Top 100 bài hát hay nhất năm 2004 do tạp chí Rolling Stone tổ chức. Đồng thời đứng thứ 18 trong số các bài ca vĩ đại nhất thập niên 2000.[1] Video của "Beautiful" cũng thành công không kém khi đoạt rất nhiều giải thưởng trên thế giới cho Video xuất sắc nhất.

Video clip[sửa | sửa mã nguồn]

Aguilera trong video "Beautiful"

Video clip được đạo diễn bởi Jonas Åkerlund, là một trong những video thành công nhất của Aguilera trên TRL. Video lần đầu tiên lọt vào Top 10 TRL ở vị trí #2 vào ngày 9 tháng 12 năm 2002 và sau đó leo lên vị trí #1. Video ở trên bảng xếp hạng 50 ngày và đạt vị trí #1 ở hầu hết các bảng xếp hạng của kênh MTV.

Video bắt đầu khi Aguilera nói câu "Don't look at me" và hình ảnh một bông hoa hướng dương tàn úa, khô héo. Tiếp theo sau đó là cảnh Aguilera hát một mình trong căn phòng trống. Ở những cảnh tiếp theo, ống kính tập trung vào những con người khác nhau trong xã hội nhưng có cùng một niềm trăn trở về cái đẹp, về lối sống tốt. Đó là một cậu bé cố gắng tập cử tạ vì muốn có một thân hình đẹp, cải thiện sự còi cọc của mình. Một cô gái gầy nhom nhìn mình trong gương thất vọng vì thân hình của mình đến nỗi đập vỡ gương. Một cô gái khác cũng có số phận như thế, tức giận cô xé toạc tờ tạp chí ném vào lửa chỉ vì mình không đẹp bằng những người phụ nữ trong ảnh. Một chàng trai với kiểu tóc kì dị trên xe bus bị sự chê cười thẳng thừng của mọi người chỉ vì có phong cách lập dị. Video khá nhạy cảm khi đề cập đến vấn đề đồng tính. Có một cảnh hai người đàn ông đồng tính hôn nhau thắm thiết trước sự kinh tởm của người xung quanh. Và một cảnh là một người đàn ông trang điểm và mặc trang phục phụ nữ trong phòng tối. Gần đến đoạn cuối bài hát thì các nhân vật trong video đã có một nhận định đúng đắn về cái đẹp, về lối sống tốt: "We are beautiful no matter what they say... We are beautiful in every single way". Kết thúc video cũng là một hình ảnh một bông hoa hướng dương như ở phần đầu nhưng tươi tắn và rực rỡ hơn. Hình ảnh này tạo sự liên kết và góp phần quan trọng trong việc truyền tải thông điệp bài hát đến mọi người.

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Anh (BPI)[37] Bạc 355.000[38]
Hoa Kỳ (RIAA)[39] Bạch kim 1.500.000[40]
New Zealand (RMNZ)[41] Vàng 7.500*
Úc (ARIA)[42] Bạch kim 70.000^

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ VH1's 100 Greatest Songs of the 00s
  2. ^ "Archive Chart" UK Singles Chart. The Official Charts Company. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  3. ^ "Christina Aguilera - Beautiful Austriancharts.at" (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  4. ^ "Ultratop.be - Christina Aguilera - Beautiful" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop 50. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  5. ^ "Ultratop.be - Christina Aguilera - Beautiful" (bằng tiếng Pháp). Ultratop 40. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  6. ^ a ă “Stripped – Charts & Awards – Billboard Singles”. AllMusic. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2015. 
  7. ^ "Danishcharts.com - Christina Aguilera - Beautiful". Tracklisten. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  8. ^ "Musicline.de - Chartverfolgung - Christina Aguilera - Beautiful" (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. PhonoNet GmbH. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  9. ^ "Dutchcharts.nl - Christina Aguilera - Beautiful" (bằng tiếng Hà Lan). Mega Single Top 100. Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  10. ^ "Nederlandse Top 40 - Christina Aguilera search results" (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40. Stichting Nederlandse Top 40. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  11. ^ "Christina Aguilera Album & Song Chart History" Billboard Hot 100 for Christina Aguilera. Prometheus Global Media. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  12. ^ "Christina Aguilera Album & Song Chart History" Billboard Pop Songs for Christina Aguilera. Prometheus Global Media. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  13. ^ "Christina Aguilera Album & Song Chart History" Billboard Hot Dance/Club Play for Christina Aguilera. Prometheus Global Media. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  14. ^ "Christina Aguilera Album & Song Chart History" Billboard Adult Contemporary Songs for Christina Aguilera. Prometheus Global Media. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  15. ^ "Archívum - Slágerlisták - MAHASZ - Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége" (bằng tiếng Hungary). Rádiós Top 40 játszási lista. Magyar Hanglemezkiadók Szövetsége. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  16. ^ "Chart Track". Irish Singles Chart. GfK. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  17. ^ "Norwegiancharts.com - Christina Aguilera - Beautiful". VG-lista. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  18. ^ "Charts.org.nz - Christina Aguilera - Beautiful". Top 40 Singles. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  19. ^ "Lescharts.com - Christina Aguilera - Beautiful" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  20. ^ “Arhiva romanian top 100 – Editia 15, saptamina 21.04-27.04, 2003”. Romanian Top 100. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2005. 
  21. ^ "Swedishcharts.com - Christina Aguilera - Beautiful". Singles Top 60. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  22. ^ "Christina Aguilera - Beautiful swisscharts.com". Swiss Singles Chart. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  23. ^ "Christina Aguilera Album & Song Chart History" Billboard Latin Pop Songs for Christina Aguilera. Prometheus Global Media.
  24. ^ "Australian-charts.com - Christina Aguilera - Beautiful". ARIA Top 50 Singles. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  25. ^ "Italiancharts.com - Christina Aguilera - Beautiful". Top Digital Download. Hung Medien. Truy cập 12 tháng 2 năm 2015.
  26. ^ “South Korea Gaon International Chart (Week: January 29, 2012 to February 04, 2012)” (bằng Korean). Gaon Chart. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013. 
  27. ^ “Yearly Best Selling Singles”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  28. ^ “Jahreshitparade 2003”. Austrian Charts. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  29. ^ “Infinity Charts: German Top 20”. Media Control Charts. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  30. ^ “Dutch charts portal”. Dutch Top 40. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013. 
  31. ^ “Billboard Top 100 - 2003”. Longbored Surfer. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  32. ^ “Irish Charts - Best of 2003”. Irish Singles Chart. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  33. ^ “Top Selling Singles of 2003”. Recording Industry Association of New Zealand. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  34. ^ “Arslista Singlar - Ar 2003”. Grammofon Leverantörernas Förening. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  35. ^ “Swiss Year-End Charts 2003”. Swiss Hitparade. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  36. ^ “ARIA Charts - End of Year Charts - Top 100 Singles 2003”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  37. ^ “Britain single certifications – Christina Aguilera – Beautiful” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2013.  Enter Beautiful trong khung Search. Chọn Title trong khung Search by. Chọn single trong khung By Format. Nhấn Go
  38. ^ “Christina Aguilera's Official Top 20 Biggest Selling Singles Revealed”. The Official Charts Company. 12 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014. 
  39. ^ “American single certifications – Christina Aguilera – Beautiful” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013.  Nếu cần, nhấn Advanced, rồi nhấn Format, rồi nhấn Single, rồi nhấn SEARCH
  40. ^ Trust, Gary (1 tháng 9 năm 2014). “Ask Billboard : Taylor Swift Out-'Shake's Mariah Carey”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  41. ^ “New Zealand single certifications – Christina Aguilera – Beautiful”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013. 
  42. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2003 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013.