Benguet

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Benguet
—  Tỉnh  —
Lá cờ Benguet
Lá cờ
Vị trí Benguet tại Philippines
Vị trí Benguet tại Philippines
Tọa độ: 16°30′B 120°40′Đ / 16,5°B 120,667°Đ / 16.500; 120.667Tọa độ: 16°30′B 120°40′Đ / 16,5°B 120,667°Đ / 16.500; 120.667
Quốc gia  Philippines
Vùng Vùng Hành chính Cordillera (CAR)
Thành lập 16/06/1966
Thủ phủ La Trinidad
Chính quyền
 - Kiểu Tỉnh của Philippines
 - Tỉnh trưởng
 - Phó Tỉnh trưởng
Diện tích
 - Tổng cộng 2.826,59 km² (1.091,4 mi²)
Dân số (2007)
 - Tổng cộng 372,533
Múi giờ PHT (UTC+8)
ZIP Code sửa dữ liệu
Mã điện thoại 74 sửa dữ liệu
Ngôn ngữ Tiếng Kankanaey, Tiếng Ibaloi, Tiếng Kalanguya, Tiếng Ilokano
Website: benguet.gov.ph sửa dữ liệu

Benguet là một tỉnh không giáp biển của Philippines thuộc Vùng Hành chính CordilleraLuzon. Tỉnh lỵ là La Trinidad. Theo chiều kim đồng hồ từ phía bắc. tỉnh lần lượt giáp với: Mountain Province, Ifugao, Nueva Vizcaya, Pangasinan, La Union, Ilocos Sur.

Thành phố Baguio, một điểm du lịch nổi tiếng, nằm sâu trong tỉnh, tuy nhiên thành phố độc lập về mặt hành chính với tỉnh

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Benguet là nơi cư trú của một vài bộ tộc. Nói chung được coi là người Igorot. Hai nhóm trong đó, bộ tộc Ibaloi ở phía đông nam và bộ tộc Kankana-ey ở phía tây bắc là những bộ tộc chủ yếu ở Benguet. Nhiều bộ tộc ở đây được các nhà nhân chủng học Philippines coi là có nguồn gốc Mã Lai. Trước khi người Tây Ban Nha đến, những bộ tộc này có những trao đổi buôn bán khá nhộn nhịp với những sắc dân vùng thấp như người Ilokano và người Pangaisinan

Khi người Tây Ban Nha đến, họ cố gắng thuộc địa hóa các khu vực vùng núi, họ cũng nghe được tin có các mỏ vàng lớn ở những vùng cao. Năm 1572, Juan de Salcedo đã chỉ đạo một đội viễn chinh nhỏ đến phía nam Benguet nhưng người bản địa đã bắt họ phải rút lui. Đoàn viễn chinh lớn đầu tiên đến năm 1620, khi những nhà thám hiểm Tây Ban Nha đi theo Thung lũng La Trinidad và trong một thời gian ngắn đã kiểm soát được một số mỏ vàng của người Igorot, nhưng sau đó vài năm các mỏ này đã bị bỏ hoang. Vào những năm 1800, thực dân Tây Ban Nha đã coi trọng thêm cố gắng chinh phục khu vực vùng núi cao. Cuộc viễn chinh đầu tiên được hoàn thành dưới sự chỉ huy của đại tá Guillermo Galvey và tiếp theo đó đã thiết lập sự hiện diện tại Thung lũng La Trinidad, cái tên được ông đặt theo tên vợ của mình.

Khu vực nay sau đó trở thành một tỉnh mới La Union vào năm 1846. 8 năm sau, năm 1854, Benguet trở thành một comandancia politico-militar' riêng biệt. Các phần khác của tỉnh hiện nay được thành lập như là một lãnh thổ hợp thành của comandancias khác như Lepanto và Amburayan

Trong giai đoạn người Mỹ kiểm soát Philippines, họ thành lập các chính quyền dân sự địa phương ở nhiều phần của đất nước. Ở Benguet, chính quyền dân sự được thành lập ngày 23/11/1900 với một nhà báo người Canada được cử làm thống đốc đầu tiên của Benguet

Người Mỹ sau đó thành lập Mountain Province vào ngày 18/08/1908. Benguyet cùng với Amburayan, Apayao, Bontoc, IfugaoLepanto trở thành các đơn vị hành chính của tỉnh mới này. Sau đó, Thành phố Baguio trở thành một thành phố riêng biệt. Sau đó năm 1920, Benguet nhập với Amburayan và Lepanto.

Vào thập niên 1930, các công ty khai mỏ bắt đầu khai thác vàng trong khu vực. Điều này đã mang đến ngiều việc làm và đã có nhièu người từ các vùng thấp di cư lên Benguet, đặc biệt là các thị trấn xung quanh mỏ như Itogon

Trong Thế chiến II, các du kích Igorot và các lực lượng Hoa Kỳ và Philippines đã chiến đấu chống lại quân đội Nhật Bản cho đến khi kết thúc cuộc chiến vào năm 1945

Vào ngày 18/06/1966, Mountain Province chia tách thành 4 tỉnh là Benguet, Mountain Province, Kalinga-ApayaoIfugao. Benguet trở thành một tỉnh thuộc vùng Ilocos. Ngày 15/07/1987, Vùng Hành chính Cordillera được thành lập và Benguet gia nhập khu vực này.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Theo thống kê năm 2000, Benguet có tổng dân số là 330.129 người, tỉnh đông dân nhất trong vùng. Con số này tăng 16.296 so với thống kê năm 1995. Như vậy dân số tăng trung bình 1,09%/năm, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng 2,43% của cả nước. Nếu mức tăng này vẫn được giữ nguyên, Benguet sẽ chỉ có dân số gấp đôi sau khoảng 64 năm nữa

Toàn tỉnh có 63.123 hộ, trung bình là 5,2 người/hộ, thấp hơn một chút so với trung bình toàn quốc là 4,99

.Trong thống kê năm 2000, 43% là người Kankana-ey, 29,2% là người Ibaloivà 13,4% là người Ilokano. Các sắc dân khác có người Ikalahan (3,7%), người Tagalog (2,4%)

Ngôn ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Hầu hết các bộ tộc ở Benguet sử dụng ngôn ngữ của họ. Bộ tộc Ibaloi nói tiếng Ibaloi, một thứ tiếng giống như tiếng Pangasinan. Ngôn ngữ của bộ tộc Kankana-ey có liên hệ với tiếng Bontoc. Nhiều người cũng nói tiếng Ilokano, tiếng Tagalog, tiếng Anh trong giao dịch và buôn bán.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Nông nghiệp, khai mỏdu lịch là các ngành kinh tế chính ở Benguet. Với thời tiết ôn hòa và địa hình cao, Benguet là một nơi lý tưởng cho sản xuất rau.Benguet thương được gọi là Cái bát Salad của Philippines. Vào 02/2007, tỉnh đã phải chịu thiệt hại nặng do thời tiết lạnh giá, nhiệt độ đã xuống tới 5˚C, các cây trồng chủ yếu như bắp cải đã bị hỏng.

Ngành khai mỏ là một ngành quan trọng khác của Benguet, đây là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước về khai thác vàng. Tập đoàn Benguet là một trong những tổ hợp đa ngành nghề lớn nhất Philippines đã tìm thấy các mỏ trong tỉnh. Các loại khoáng sản khác như bạc, đồng, quặng pi-rít và đá vôi

Sự có mặt của thành phố Baguio tại Benguet đã mang lại một lượng du khách lớn từ các tỉnh vùng thấp. Thong thường, các du khác khi đến Baguio cũng sẽ thăm quan Benguet, đặc biệt là các đồn điền trồng dâu tây và các loại rau ôn đới tại La Trinidad

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Benguet được chia thành 13 đô thị tự trị bao quanh thành phố Baguio. Baguio từng là một phần của tỉnh nhưng đã tách ra từ năm 1909. Tuy nhiên, để thuận tiện cho việc thông kê, Baguio được tính như là một phần của Benguet, đặc biệt trong số liệu điều tra hay khi thành phố quyết định là một phần của các cơ quan tỉnh Benguet vì sự tiện lợi và thực tế

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]