Bert van Marwijk

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bert van Marwijk
Bert van Marwijk 2011.jpg
Van Marwijk với tư cách quản lý đội Hà Lan năm 2011
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Lambertus van Marwijk
Chiều cao 1,81 m (5 ft 11 12 in)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin câu lạc bộ
CLB hiện tại Hamburger SV (quản lý)
CLB Chuyên nghiệp*
Năm CLB Trận (Bàn)
1969–1975 Go Ahead Eagles 146 (16)
1975–1978 AZ Alkmaar 69 (20)
1978–1986 MVV 225 (11)
1986–1987 Fortuna Sittard 11 (1)
1987–1988 Assent 17 (0)
Tổng 468 (48)
Đội tuyển quốc gia
1975 Hà Lan 1 (0[1])
Đội quản lý
1998–2000 Fortuna Sittard
2000–2004 Feyenoord Rotterdam
2004–2006 Borussia Dortmund
2007–2008 Feyenoord Rotterdam
2008–2012 Hà Lan
2013– Hamburger SV
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng
được ghi ở giải Vô địch quốc gia
.
† Số trận khoác áo (Số bàn thắng).

Lambertus "Bert" van Marwijk (sinh ngày 19 tháng 5 năm 1952 tại Deventer, Overijssel) là huấn luyện viên và cầu thủ người Hà Lan. Ông đã từng thi đấu cho nhiều CLB khác nhau như: Go Ahead Eagles, AZ, MVVFortuna Sittard. Ông cũng chơi cho Đội tuyển quốc gia Hà Lan. Năm 1982, ông bắt đầu tham gia công tác huấn luyện. Mãi đến năm 1988 ông mới kết thúc sự nghiệp cầu thủ và chỉ làm công tác huấn luyện. Năm 2002, ông đã giành chiến thắng UEFA Cup cùng với CLB Feyenoord. Ông hiện đang nắm giữ cương vị huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia Hà Lan thay thế cho Marco van Basten. Ông cũng là cha vợ của tiền vệ CLB Bayern MunichMark van Bommel.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp cẩu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Là tiền đạo và tiền vệ, ông đã thi đấu 393 trận trong khuôn khổ Giải vô địch quốc gia Hà Lan. Ông có một lần khoác áo đội tuyển quốc gia Hà Lan.

Huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Với tư cách là huấn luyện viên trưởng, ông đã dẫn dắt một đội bóng hạng hai là Fortuna Sittard vào đến tần trận chung kết Cup Quốc gia Hà Lan vào năm 1999. Năm 2002, ông đưa Feyenoord giành chức vô đich UEFA Cup. Tháng 7 năm 2004, ông dẫn dắt Borussia Dortmund thay Ruud Gullit sau những thành công tại Feyenoord. Tháng 12 năm 2006, sau hơn hai mùa giải dẫn dắt CLB chỉ với thành tích ở giữa bảng xếp hạng Bundesliga, ông chính thức chia tay CLB vào cuối mùa giải 2006-07. Tuy nhiên ngày sau đó vào 18 tháng 12, CLB đã sa thải ông vầ bổ nhiệm Jürgen Röber.

Tháng 6 năm 2007, ông trở lại dẫn dắt Feyenoord, và đưa CLB đến vị trí cao tại giải bóng đá Hà Lan. Để đạt được mục tiêu, ông đưa về cựu cầu thủ nổi tiếng của Feyenoord là Giovanni van Bronckhorst, và cùng với đó là Tim de Cler, Kevin HoflandRoy Makaay. Sự trở lại của ông một lần nữa lại thành công khi Feyenoord vô địch hà Lan. Tuy nhiên thời gian đó cũng không lâu khi kết thúc màu giải 2007-08, van Marwijk tiếp quản chiếc ghế huấn luyện viên trưởng đôi tuyển quốc gia Hà Lan sau sự ra đi của Marco van Basten sau Euro 2008. Trong hai lần dẫn dắt Feyenoord, tổng cộng 5 mùa giải ông đã có không ít thành công với đội bóng. Người lên thay Van Marwijk dẫn dắt Feyenoord là huấn luyện viên Gertjan Verbeek.

Đội ngũ huấn luyện của ông tại đội tuyển quốc gia là những cựu cầu thủ nổi tiếng như Frank de BoerPhillip Cocu, cũng như huấn luyện viên Dick Voorn.

Ông bắt đầu nắm quyền tại tuyển Hà Lan sau Euro 2008, thay thế cho Marco van Basten. Ông đã biến Hà Lan thành một đội chắc chắn, lọt vào chung kết World Cup 2010 và có chiến dịch vòng loại Euro 2012 đầy ấn tượng. Tuy nhiên, đội tuyển Hà Lan đã rời Euro 2012 ngay sau khi để thua cả 3 trận trước Đan Mạch, ĐứcBồ Đào Nha, chỉ ghi được 2 bàn thắng và bị thủng lưới tới 5 bàn. Sau khi Hà Lan rời Euro 2012 đầy tủi nhục, ông chính thức tuyên bố từ chức.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cương vị cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

AZ

MVV Maastricht

Cương vị huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Fortuna Sittard

  • Cúp Quốc gia Hà Lan
    • Á quân (1): 1999

Feyenoord

  • VĐQG Hà Lan
  • Cúp Quốc gia Hà Lan
    • Vô địch (1): 2007-08
    • Á quân (1): 2003
  • UEFA Cup
    • Vô địch (1): 2002

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bert van Marwijk tại National-Football-Teams.com

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]