Biên niên sử Việt Nam thời kỳ 1945-1975

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bài chính: Niên biểu lịch sử Việt Nam

Bài này liệt kê các mốc quan trọng trong lịch sử Việt Nam thời kỳ 1945-1975.

1945[sửa | sửa mã nguồn]

1946[sửa | sửa mã nguồn]

1947[sửa | sửa mã nguồn]

1948[sửa | sửa mã nguồn]

  • 5 tháng 6: Hiệp định Vịnh Hạ Long (Accords de la baie d'Along) cho phép thành lập Quốc gia Việt Nam gồm cả ba miền Bắc Trung Nam, nằm trong Liên hiệp Pháp.

1949[sửa | sửa mã nguồn]

1950[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 1: Trung QuốcLiên Xô công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
  • Tháng 2: MỹAnh công nhận chính phủ Quốc gia Việt Nam
  • 8 tháng 5: Mỹ bắt đầu can thiệp quân sự vào Việt Nam khi tổng thống Harry Truman duyệt 15 triệu đô-la viện trợ quân sự cho Pháp. Cố vấn quân sự Mỹ sẽ đi theo dòng xe tăng, máy bay, pháo, và các hàng hóa khác vào Việt Nam. Trong 4 năm sau, Mỹ sẽ tiêu 3 tỉ đô-la cho cuộc chiến của người Pháp và đến năm 1954 sẽ cung cấp 80% hàng hóa chiến tranh mà quân Pháp sử dụng.
  • 16 tháng 9 - 17 tháng 10: Chiến dịch Biên giới. Việt Minh phá thế cô lập của căn cứ địa Việt Bắc, khai thông biên giới để mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ từ Trung Quốc, bắt đầu chuyển sang thế chủ động.
  • 22 tháng 12: Bom napan được sử dụng lần đầu tại Việt Nam để chống lại quân Việt Minh tại Tiên Yên.

1953[sửa | sửa mã nguồn]

1954[sửa | sửa mã nguồn]

1955[sửa | sửa mã nguồn]

1956[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 2: Hội nghị Trung ương Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 9 tuyên bố các sai lầm trong cải cách ruộng đất.
  • 18 tháng 8: Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào và cán bộ nhìn nhận sai lầm và cho biết Trung ương Đảng và chính phủ đã nghiêm khắc kiểm điểm các sai lầm.
  • 15 tháng 12: Báo Nhân Văn bị đóng cửa. Chiến dịch chống Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm bắt đầu.

1960[sửa | sửa mã nguồn]

1961[sửa | sửa mã nguồn]

  • 15 tháng 2: Quân Giải phóng Miền Nam (QGP) lực lượng quân sự của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.
  • 27 tháng 2: hai phi công thuộc Không quân Việt Nam Cộng hòa lái máy bay ném bom dinh Độc Lập nhằm ám sát Ngô Đình Diệm nhưng không thành.
  • Tháng 12: Quân Giải Phóng và du kích miền Nam kiểm soát phần lớn các vùng nông thôn miền Nam và thường xuyên phục kích Quân lực Việt Nam Cộng hoà. Chi phí Mỹ phải dành cho cuộc chiến tại Việt Nam tăng lên 1 triệu đô-la mỗi ngày [2].

1963[sửa | sửa mã nguồn]

1964[sửa | sửa mã nguồn]

1965[sửa | sửa mã nguồn]

1966[sửa | sửa mã nguồn]

1967[sửa | sửa mã nguồn]

1968[sửa | sửa mã nguồn]

1969[sửa | sửa mã nguồn]

1971[sửa | sửa mã nguồn]

1972[sửa | sửa mã nguồn]

1973[sửa | sửa mã nguồn]

  • 27 tháng 1: Hiệp định Paris được kí kết. Cuối tháng 3, Quân đội Mỹ rút hoàn toàn khỏi Việt Nam.
  • 7 tháng 11: Quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết đòi tổng thống phải được chấp thuận của Quốc hội 90 ngày trước khi gửi quân Mỹ ra nước ngoài.

1974[sửa | sửa mã nguồn]

  • 17 - 19 tháng 1: Hải chiến Hoàng Sa. Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa khi đó thuộc chủ quyền Việt Nam Cộng hòa.
  • Tháng 9: Quốc hội Mỹ chỉ chấp thuận 700 triệu USD viện trợ quân sự cho Việt Nam Cộng hòa. Dẫn đến tình trạng thiếu kinh phí và làm giảm khả năng hoạt động cũng như tinh thần của QLVNCH.

1975[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bruce Olav Solheim, Vietnam War Era: A Personal Journey, Greenwood Press, 2006.
  • J. Edward Lee, H. C. "Toby" Haynsworth, Nixon, Ford, and the Abandonment of South Vietnam, McFarland & Company, 2002.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Solheim, tr. xx (Phụ lục)
  2. ^ Solheim, tr. xxii (Phụ lục)